Thưa các quý vị và các bạn!
Như chúng tôi đã từng chứng minh, lý tưởng và mục đích của Nguyễn Văn Vĩnh khi dấn thân vào sự nghiệp làm văn hóa chữ viết, giai đoạn những năm đầu của thế kỷ 20 ở Việt Nam là, quảng bá, vận động người Việt đến với chữ viết tiếng Việt dùng mẫu tự chữ cái La Tinh. Ông đã áp dụng nhiều phương thức, để người dân sớm thống nhất việc có được thứ chữ viết dễ học, dễ đọc. Ông hoàn toàn không vì sự hiềm khích hay bài xích chữ Hán, chữ Nôm và chữ Pháp lúc đó đang tồn tại trong đời sống hành chính của người Việt, ngược lại, đó chính là những loại chữ viết, mà Nguyễn Văn Vĩnh đã rất thạo và rất giỏi. Cụ thể:
- Nguyễn Văn Vĩnh là người dịch tác phẩm ‘Khế ước Xã hội’ của J.J. Rousseau (1772-1778) từ nguyên bản tiếng Pháp sang tiếng Việt năm 1899-1900.
- Nguyễn Văn Vĩnh là người hiệu đính, viết lời tựa, cho pho truyện dã sử Trung Hoa‘Tam Quốc chí diễn nghĩa’ của La Quán Trung (cuối thế kỷ 14), do Phan Kế Bính (1875-1921) dịch từ Hán văn sang quốc ngữ năm 1909.
- Nguyễn Văn Vĩnh là người chuyển ngữ toàn bộ tác phẩm ‘Truyện Thúy Kiều’ của thi hào Nguyễn Du (1766-1820) từ chữ Nôm ra quốc ngữ lần thứ nhất năm 1913.
- Bài viết ‘VÊ HỎA XA’ được chúng tôi sao chép từ bản gốc của tờ báo, mọi chi tiết văn phạm đều được giữ gìn trung thực.
- Một số chú thích ngắn để giúp bạn đọc không mất thời gian tra cứu, bị phân tán khi đọc.
Đầu tàu hơi nước
VỀ HỎA XA
(Đăng Cổ Tùng Báo – 18/4/1907).
Mới rồi ở Đăng-cổ-tùng-báo (bản chữ Đại-pháp) có in ra bản dịch cái tờ của quan Trước-tác Phan-hữu-Trinh đệ lên quan Thống-sứ, kể tình-hinh nước Nam. Đầu tờ ấy có câu rằng: “Từ khi quan Đại-pháp sang bảo-hộ nước Nam, thì đường xá cầu-cống, hỏa thuyền, hỏa xa, nhà máy thép dựng ra, ai cũng phải cho làm ích lợi lắm”. Quan Phan-tru-Trinh bắt đầu kể ngay những điều ấy là phải lắm, vì không điều gì tỏ văn-minh hơn là việc mở đường xá, thông tin. Sự mở cách thông nơi nọ sang nơi kia, mà thực được như đương-nhiên có bây giờ ở địa-cầu, là sự mới có. Được hơn một thế-kỷ là cùng. Cốt nhất là như sự dùng hơi nước. Cái hơi nước sôi, mà có lực, là bởi ông bác-vật (bác học.B/t) Đại-pháp tên là Papin biết ra trước hết, là vì một hôm ông ấy đun một nồi nước lã, khi nước sôi thấy vung nồi bập bồng cho nên biết rằng nước nóng sinh ra lực. Nhưng từ lúc biết được điều ấy, cho đến lúc dùng được hơi nước thì cũng lâu lắm. Nước sôi sinh lực nhưng muốn cho lực mạnh phải đốt đều, có nhiều mặt giáp lửa thì nước mới ra nhiều hơi, như thế thì cái nồi chaudière (nồi súp de – nồi hơi. B/t) phải làm to mà rộng lắm thì lửa mới mấy giáp được nhiều nước. Mà làm được nồi chaudière to thì khó làm lắm, và để đâu nó cũng chật-chội, nghêng ngang bất tiện. May sao về sau có ông bác-vật Pháp nữa, tên là Marc-Seguin, lại nghĩ được ra một cách thầm-diệu, để cho lửa giáp được nhiều nước. Thường ta đun một nồi nước thì chỉ có đáy nồi là giáp lửa mà thôi. Nồi chaudière cũng vậy, nhưng cái nồi của ông Seguin chế ra thì khác. Trong nồi có mười lăm, hai mươi cái ống giỗng liền với nhau. Nước đựng vào những ống ấy, khi đốt lửa thì ngọn lửa luồn qua vào những khe ống, như thế thì nồi vừa nhỏ, nước vừa ít, mà lửa giáp được nước nhiều lắm. Cái lối nồi chaudière ấy gọi là ‘tubulaires’.Cầu đường sắt Lào Cai
Từ khi đặt ra được kiểu nồi ấy, thì hơi nước mới tiếm đoạt được gầm giời, đổi được mặt đất. Vì sức hơi nước dùng được ba việc trong thế-gian: Hỏa thuyền là một; Hỏa xa là hai; Cơ khí là ba. Những cơ khí thì xin hãy để về sau, khi nào luận đến các nước nhớn trong hoàn cảnh thì tôi hãy nói đến. Nay xin hãng luận về hỏa thuyền với hỏa xa. Tróng tấn tới nhất là hỏa thuyền vì lúc mới có dễ làm. Khi bấy giờ thuyền buồm sẵn, chỉ có việc thêm một cái nồi chaudière, và vài cái chân-vịt (hélices) hay là bánh xe (roues) mà thôi. Và dường lối ngoài biển đã có sẵn, hiểm nghèo đã có hải đồ của các quan chúa tầu (chủ tầu thủy. B/t) vẽ ra. Còn như hỏa xa thì lúc mới làm lấy làm khó lắm. Nào đường phải thẳng, phải có ngáng sắt, hay là ngáng thép (tà vẹt. B/t), phải có một cái máy đầu, để kéo xe đi. May có những tay chuyên-môn (ingénieur) dần dần gắng sức mãi cũng đã làm khỏi được những sự ngăn chở ấy. Các ông ấy đã làm ra những tầu buồm một giờ chạy được 45 kilomètres, chế ra những tầu triến chạy lại nhanh nữa. Tầu nhớn đi từ nơi này đến nơi khác có khi hàng ngày, hàng tuần-lễ, có khi từng tháng, các ông làm tầu hết sức làm cho khách đi tầu được tiện mọi điều, ăn ngủ, chơi bời. Cứ hỏi ngay mấy ông đã sang Tây về thì biết. Thử hỏi các ông ấy xem ở tầu có thiếu gì không? Có kém gì các hàng cơm tây không?Ga đường sắt Hà Nội (Hàng Cỏ) được khánh thành năm 1902 cùng với cầu Long Biên.
Thực quả là một cái nhà cao-lâu lịch-sự ở trên mặt nước. Ở trên bộ thì các ông bác-vật tạo nên những máy xe lửa chạy lại nhanh hơn hỏa thuyền nhiều. Mới được độ một trăm năm nay, bấy giờ mới có xe lửa chạy được 20 kilomètres, nhanh hơn con ngựa thi giỏi một chút. Thế mà ông chế ra máy ấy đã cho là nhanh lắm, đặt tên là cái ‘pháo thăng thiên’. Từ thủa ấy đến giờ, sự học đã tấn tới, đã làm ra được nhiều máy xe-lửa chạy thực nhanh. Bên Tây, những nơi đồng bằng có những xe chạy một giờ hơn 100 kilomètres, ví như ở Băc-kỳ ta có những xe ấy thừ Hải-phòng lên Hà-nội chỉ mất một giờ, từ Hà-nôi lên Lao-kay chỉ mất 3 giờ. Các ông bác-vật chuyên môn không những là chế ra máy chạy nhanh, lại còn tìm cách vượt cả mọi sự ngăn trở. Như bây giờ thì có thể nói được rằng: không gì hãm được hỏa-xa. Sông sâu đã có cầu, như cầu Paul-Doumer (cầu Long Biên Hà nội-Hoàn thành năm 1902. B/t), qua sông cái ta đây kia, thì vào bậc công cuộc đẹp nhất mà to nhất ở thế-gian, 1800 thước tây *; khe núi sâu đã có cầu-cạn, đẹp nhất có cầu Gabaril ở nước Đại-pháp, cao có quãng đến 122 thước tây, dài 565 thước; núi cao đã có hang đào vào đá, hang dài nhất là hang Simplon ở Chung-âu, dài 20 kilomètres, nghĩa là gần bằng Hà-nội sang Bắc-ninh. Nhờ có hỏa-xa với hỏa thuyền bây giờ người ta giao-thiệp với nhau dễ lắm. Ở mặt đất bây giờ cũng còn có nơi hỏa-xa chưa có, hỏa thuyền chưa đỗ; nhưng các nơi ấy mỗi ngày ít đi, xem ngay ở bản-đồ các cách người ta thông với nhau, thì biết. Kỳ sau Bản-báo sẽ in cái bản-đồ ấy ra để các Quí-khách xem. TNT. * Thời Pháp thuộc, việc nói thước Tây là để phân biệt với thước Ta. Thước Ta được áp dụng trong giai đoạn Việt Nam chưa bị Thực dân Pháp chiếm đóng. Thước Ta có nhiều loại, nhưng ba loại chính để dùng đo các loại vật chất khác nhau như đất, vải, mộc, nhưng độ dài cũng khác nhau, và đều là số lẻ nếu so với thước Tây có độ dài chuẩn la 1 mét. ==============

