SÁCH NUÔI NGƯỜI – LỚN – KHÔN

(Tâm sự sau khi hoàn thành cuốn sách thứ sáu, mang tên – Hoa Một Mùa – do NXB Phụ nữ phát hành tháng Mười 2018) NGÂY NGÔ  Ngày bé.

Chính từ sách mà những người khôn ngoan tìm được sự an ủi khỏi những rắc rối của cuộc đời.(1) (Victor Hugo).

Những năm 60, khi còn là một đứa trẻ học lớp 5, trong một giây phút hứng khởi, mẹ tôi tay cầm cuốn sách dày, gọi tôi giật giọng và nói như nói chuyện với một người bạn, bà bảo: “Này Bình, Bình phải đọc sách đi, đọc cuốn này này, hay lắm nhá! Ôi sao hay thế chứ lại…”. Mặt tôi tỉnh queo, tuyệt nhiên tôi chẳng hề có cảm xúc gì, dù tôi biết, có thể bà nhìn từ góc độ hai cậu em sát tôi, chúng mê đọc đến mức bỏ cả bữa cơm, phần vì sự say mê, phần vì bữa cơm nghèo, nếu để phần chúng, thức ăn ít đến nỗi không ‘bôi’ ra nổi, mà mẹ tôi giục mỏi miệng, chúng cũng chẳng bận tâm. Những lúc như thế, mẹ tôi bực, phạt các em tôi bằng cách cho nhịn…. mà chúng cũng có nao núng đâu. Thấy mẹ gọi nhiệt tình như thế, tôi đành ra điều ‘ngoan’, đến bên bà và hỏi: “Quyển gì hả mẹ?”. Bà nói: “Hồng Lâu mộng, hay lắm Bình ạ!” (2)  Đầu tôi còn lạnh hơn cả cái mặt mình lúc đó, vì tôi chẳng có khái niệm gì về sách đã đành, lại là tiểu thuyết Trung Quốc. Đến như Tây du ký, tôi còn chẳng bận lòng, huống chi là sách tiểu thuyết. Ngày ấy, hai từ tiểu thuyết là cái gì đó xa lạ lắm với tôi, vì làm gì có cuốn tiểu thuyết nào ngắn đâu. Tôi cũng giống như xã hội hôm nay, từ bé chỉ thích ăn xổi thôi. Đọc một cuốn sách hàng mấy trăm trang, mất cả tuần lễ, may ra mới thu lượm được điều gì đó trong đầu. Tôi lười đọc vì thế! Thực tế khốn khó khi tôi lớn lên, nhất là vào cái giai đoạn thập kỷ 60, tôi chỉ nhớ và học được đôi ba điều mà cuộc sống dạy bảo, như loại tem phiếu màu nào, số mấy dùng mua nước mắm, màu nào, số nào mua đậu phụ…. Muốn trốn vào rạp chiếu phim để khỏi phải mua vé (nhà tôi cạnh rạp Tháng Tám), nên trốn vào thời điểm nào của buổi chiếu? Nhớ xem ca xé vé buổi chiếu đó là ai? Vì có hai bác nhân viên xé vé rất ác, đúng ca của hai người đó mà bị bắt, không những bị đuổi ra khỏi rạp, mà mấy ngày sau tai còn đau đỏ vì bị véo rất mạnh. Lúc sơ tán về ở nông thôn do chiến tranh phá hoại, tôi học rất nhanh và hiệu quả cách bắt cua, bắt cá ngoài đồng, ngoài ruộng. Ao nước nào, vũng nước nào nên nghĩ đến chuyện cất vó (tôm), muốn có nhiều tôm khi cất vó phải rang thính kiểu gì? Ủ với nước gì? Cất vó vào giờ nào trong ngày sẽ ‘ăn’ to….? Và, chẳng thấy cần gì đến sách! Lúc nào cũng chỉ nghĩ xem có gì ăn được, có gì cho được vào mồm.

Gia đình Nguyễn Lân Bình chụp cuối những năm 60 – (Người anh cả Nguyễn Lân Vũ đứng thứ nhất bên trái, cha mẹ và bốn đứa em của Lân Bình)

Là thanh niên. Năm tháng trôi đi, khi làm người lính ở Trường Sơn, những tháng mùa mưa vùi đầu trong chiếc võng bạt trên những đỉnh núi của Trường Sơn bao la, chao ơi là buồn. Cứ có cơ hội, lại giở các bức thư cũ ra đọc, bất giác, nhiều bức thư của người thân có nội dung dài dài, hay hay, làm tôi lay động lòng dạ. Nhưng cứ đọc đi đọc lại rồi cũng chán, đến một ngày, bỗng dưng thấy thèm đọc… Và rồi, ngày ấy, tôi cứ thấy cái gì có chữ là đọc. Tất nhiên, không có nghĩa là đọc say mê, vì muốn say mê phải hiểu, phải thấm, mà những thứ tôi ‘vớ’ được, mấy khi là thứ mình thích, mấy khi có nội dung giống với suy nghĩ của mình, nhưng vì nó có chữ…. Mà khốn nạn, không đọc thì làm gì? Nhất là những tháng mùa mưa, mưa rừng rả rích, mưa như thối đất, thối cát, hết ngày này sang ngày khác, hết tuần này sang tuần khác, có đợt kéo dài cả tháng trời. Vậy không đọc thì làm gì chứ? Một lần tôi đến chơi lán ở của một người là cán bộ. Ông được điều từ Bộ Giao thông vào làm biệt phái cho Bộ Tư lệnh 559 (Trường Sơn). Chuyện trò với ông chán chê, tôi thấy trên cái giá để ba lô của ông có mấy quyển sách. Tôi tò mò xin xem thử, toàn sách về xây dựng kết cấu đường xá, cầu cống. Giữa những cuốn sách đó, tôi thấy có quyển Tư Bản luận của Các Mác. Tôi chần chừ một lúc, mạnh dạn hỏi ông: “Anh ơi, em mượn cuốn này được không?”. Ông cười to bảo tôi: “Cậu đọc làm gì, tớ được phát lần đi học chính trị ấy mà. Tớ đọc còn chẳng hiểu gì, mà tớ cũng chỉ đọc được có mấy trang. Thì đấy, cậu lấy đi. Mỗi lần hành quân di chuyển nơi này nơi kia, nặng muốn chết luôn. Cậu cứ cầm, không phải mượn!”. Một ngày, vào sáng Chủ Nhật được nghỉ (đơn vị tôi ngày đó, chỉ được nghỉ hai Chủ Nhật. Những Chủ Nhật khác phải đi lao động, được gọi là lao động XHCN), tôi thẩn thơ dở quyển Tư Bản ra đọc. Đang đọc chương thứ nhất gì đó, ông chính trị viên đại đội (3) đi ngang qua lán ở của tiểu đội tôi. Ông thấy tôi ôm quyển sách dày cộp, to đùng, ông nghiêng người, cầm tay tôi nhấc lên để xem bìa viết chữ gì. Trong lòng tôi khoái chí, kiểu trưởng giả học làm sang, rằng tôi cũng ‘học’ chính trị đây. Ông chính trị viên bĩu môi và buông một câu ngắn:  “Úi giời, tư bản mới chẳng tư beo, cậu ghê nhỉ, cậu đọc quyển này làm gì?”. Nói xong ông đi luôn, cũng chẳng cần nghe tôi ‘báo cáo, báo cầy’ gì thêm. Đời lính chúng tôi là vậy, trong sinh hoạt hàng ngày, những biểu hiện tư tưởng, những suy nghĩ tâm tư… đều được các cán bộ chính trị ‘quan tâm’. Việc thấy tôi đọc loại sách không dành cho người lính (quan niệm bề trên của những người lãnh đạo), là những biểu hiện cần phải cảnh giác. Họ luôn ái ngại với những người hiểu nhiều, biết lắm, bởi lẽ ‘bọn’ biết lắm hiểu nhiều hay yêu sách, hay lý luận, căn vặn cán bộ, làm ảnh hưởng đến ‘uy’ và ‘vũ’ của họ trước tập thể, trước quần chúng, trước anh em trong đơn vị. Trong những năm quân ngũ, nhóm anh em lính điện xe tăng, xe xích chúng tôi, đã từng sống với một cán bộ là chính trị viên đại đội, người quê ở Hải Hưng (bây giờ là Hải Dương và Hưng Yên). Ông là mẫu người 100% giống như mấy vai chính là cán bộ trong bộ phim truyền hình dài tập của THVN – Sóng ở đáy sông – Ông tốt tính, không hay thù vặt, nhưng khi đứng trước hàng quân, ông luôn nhấn mạnh: “Các anh đừng tưởng cứ học này học nọ đã là ghê, đi Đông đi Tây mà là gớm… Riêng về chính trị, các anh một, tôi một triệu… một triệu… một triệu, nhớ đấy!”.

 

Nguyễn Lân Bình chụp năm 1972 khi đã vào bộ đội

Là người lớn. Lại một lần khác, sau khi Hiệp định Paris được ký tháng Một 1973. Trong một chuyến đi công tác bằng ôtô tải của đơn vị, khi xe qua thị trấn Cổn (Đồng Hới ngày nay), anh lái xe nhìn thấy một ngôi nhà lá dài bên đường có tấm biển gỗ ghi: ‘Cửa hàng bách hóa’, anh cho xe đỗ lại. Mấy anh em chúng tôi hớn hở lao vào vì hy vọng sẽ mua được cái gì đó…. Ngày ấy, cái gì cũng hiếm, từ bao diêm, đến cái bát ăn cơm, từ cái ca sắt uống nước, đến cái màn ngủ bằng vải xô… Đặc biệt, vùng tuyến lửa khu IV là nơi được ưu tiên so với miền Bắc trong việc cung cấp hàng hóa tiêu dùng, nên nhu yếu phẩm đôi khi người dân còn được mua không cần phải có tem phiếu. Các anh cùng đi với tôi loanh quanh bên gian hàng đồ bách hóa. Nói là gian hàng, cũng có gì nhiều nhặn đâu, chỉ vài ba cái vỏ chăn may bằng vải tiết kiệm, phích nước chỉ bán vỏ chứ làm gì có ruột, dăm ba cái bấc đèn dầu, một ít hộp dầu xoa nhãn hiệu Sao vàng, cùng với mấy cái chậu men Hải Phòng bày làm mẫu…. Tôi sang chỗ bán văn phòng phẩm, mơ ước mua được cái bút máy, vô tình, thấy có đôi ba đầu sách văn hóa trên một cái giá gỗ, tôi nhìn quyển Miếng Da lừa (4) của Honoré de Balzac. Bìa sách in xấu quá, vì màu xẫm, nên cái bìa sách thành xỉn xỉn. Tôi nhớ đến tác phẩm Ơgieni Grăng Đê (Ogieni Grande) được học trong chương trình bộ môn văn hồi phổ thông. Tôi nấn ná, ngẫm nghĩ cân nhắc xem liệu còn đủ tiền để mua không? Tôi lật sau cuốn sách xem giá tiền, thật may mắn, tôi đếm thấy vừa đủ số tiền mình có để trả cho o (cô) bán hàng. O bán hàng liếc mắt nhìn tôi như có vẻ ngạc nhiên. Thấy vậy, tôi mạnh dạn hỏi có chuyện gì vậy o? O nói: “Vì cuốn sách để lâu lắm rồi, chẳng có khách hỏi. Hôm nay có người mua nên em mừng quá…Hi hi”. Mua được sách mới, tôi để (thực ra là vứt) trong cái hòm gỗ. Từ ngày có Hiệp định Paris, bọn tôi ít phải di chuyển địa điểm đóng quân, ba lô không dùng đến, mỗi đứa tìm lấy cái hòm đạn bằng gỗ thông, dùng làm cái ‘tủ’ cho tiện, vì để các thứ trong ba lô, lúc lấy ra mất thời gian lắm, mà hay bị nhàu nát. Vả lại, có cái hòm gỗ, lúc cần viết lách gì, nó thành cái bàn luôn. Lại vẫn một buổi sáng Chủ Nhật, được nghỉ. Sau khi luộc được nồi sắn, nuốt mấy củ thấy ấm bụng, ngồi tha thẩn chợt nhớ ra cuốn sách mới mua. Tôi mở hòm lấy cuốn sách ra đọc với vẻ khoái chí vì nó mới, ‘món ăn’ mới…. Tôi đọc được khoảng 5 hay 7 trang gì đó, nhưng không cảm nhận được chút gì, nghĩ bụng mình mua phí tiền rồi, tôi gấp lại quẳng vào hòm, đi sang lán khác tán gẫu đợi cơm trưa. Sẽ ít ai tin, rằng cứ như vậy, mỗi lần giở cuốn sách ra, tôi cũng chỉ ‘nuốt’ được vài ba trang sách, rồi lại cất vào hòm. Lần sau, cũng vì chẳng có gì để đọc, tôi lại lôi ra, rồi cũng chỉ đọc được vài trang, tôi lại ném vào hòm…. Tôi nhớ chính xác, đến lần thứ năm, tôi giở cuốn sách ra đọc tiếp từ chỗ đọc dở lần trước. Tôi ngạc nhiên… vì từ đoạn văn tiếp theo này, tôi thấy hay và mải miết đọc. Tôi bỗng cảm thấy nó hấp dẫn, mà tên nhân vật chính thật dễ nhớ (Valentin), đâu có mơ hồ, hư hư ảo ảo như phần đầu cuốn sách. Tôi say cuốn Miếng da lừa từ lúc nào không biết, thậm chí có những đoạn khi đọc đến, tôi mơ màng ao ước, tưởng tượng, rằng nếu có cô gái nào cũng đã đọc cuốn sách này, rồi cũng say mê cuốn sách như mình, nhất định tôi sẽ xin được cưới làm vợ luôn, bất chấp vô điều kiện, khỏi phải cân đong kén chọn, khỏi phải lo về nhà bố mẹ có đồng ý không, khỏi phải sợ về Hà Nội có nhập được hộ khẩu không? Miễn là cô ấy cũng thích cuốn Miếng Da lừa! Tôi đắm đuối, xuýt xoa từng đoạn văn trong cuốn sách. Tôi tự cho nó như một bài học sát sườn, về lối suy nghĩ mơ hồ của kiếp đàn ông khi rơi vào cái bẫy của sự lãng mạn. Tôi thích chí khi thấy tác giả ví cuộc đời như một miếng da con lừa, nó cứ co dần lại trước những mơ ước của con người theo năm tháng, rằng cuộc đời chỉ có chừng đó thôi, sự hữu hạn có hình. Phải đến gần ba chục năm sau, tôi mới giật mình biết rằng, trước đây cả trăm năm, ông nội Nguyễn Văn Vĩnh của mình, đã là người Việt Nam đầu tiên dịch tác phẩm Miếng Da lừa từ tiếng Pháp ra tiếng Việt!

Cuốn sách Miếng Da Lừa được tái bản về sau này

Cho đến hôm nay, thành thật thú nhận với các bạn rằng, số lượng đầu sách mà tôi đã đọc rất ít, thậm chí tôi còn đếm được. Hơn nữa, tôi đọc chậm. Tôi rất thành kiến với những ai đọc một cuốn sách ba, bốn trăm trang mà chỉ mất 1 hoặc 2 ngày. Tất nhiên, đôi khi đó là tính cách riêng ở từng người. Và cũng có những người có năng lực đọc nhanh, cảm nhận nhanh. Nhưng với tôi, tôi cứ thích nghiền ngẫm, suy tưởng, so sánh và chiêm nghiệm. Tôi nhớ khá sâu những tình tiết mà tôi bị ấn tượng trong khi đọc một cuốn sách. Ngoài ra, tôi còn bị bệnh liên tưởng, đặt địa vị mình mà là họ (những nhân vật chính trong cuốn sách), mình sẽ ứng phó kiểu gì? Mình sẽ căm ghét, rồi trả thù ra sao trước những sự chà đạp, bất công? Tại sao lại thế này? Tại sao lại thế kia…? Có người bảo tôi, đọc như ông bao giờ cho hết một cuốn sách? Cả đời liệu sẽ đọc được bao nhiêu, và sẽ làm được trò trống gì? Khôn lớn. Có một bộ phận những người thân là họ hàng, là bạn bè quen biết và những người quan sát theo dõi tôi, có lối nghĩ, rằng tôi làm sách Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Nhược Pháp, là vì đấy là ông nội mình, là bác mình, là ông nội nó, là bác ruột nó! Mà không mấy ai cho rằng, thằng người, trong mọi tình huống, cần phải bảo vệ lẽ phải, bảo vệ danh dự cho những gì mình thấy là chân chính, là trung thực và mang ý nghĩa cao cả. Đặc biệt, khi đó lại là sản phẩm của những con người đã hết lòng dâng hiến, tạo nền cho nền văn học chữ Quốc ngữ, nền văn học thiêng liêng của một dân tộc, một thứ văn hóa độc lập, một thứ bản sắc riêng biệt như gai nhọn đâm vào mắt, vào tim của những kẻ lúc nào cũng tìm cách bắt nạt, thôn tính, tìm cách đồng hóa một dân tộc, một miền đất mà chúng cho rằng chẳng khó khăn gì, vì ‘bọn này’ không có văn hóa! Kiếp người vốn chỉ là tạm, ai cũng biết khi từ giã cõi đời, danh cao, vàng núi cũng không thể đem theo. Tạo hóa, Trời, Phật và các Thánh thần không đòi các sinh linh phải dâng mâm cao cỗ đầy, nhưng những đấng thiêng liêng lại luôn muốn con cháu nhớ đến tổ tiên, đến cội nguồn, đến ông bà cha mẹ. Nỗi nhớ đó của con người, chính là nguồn cơn, là gốc rễ để giúp thằng người sống có đạo, sống có đức. Có phải cổ nhân từng răn dạy: Có phúc, có đức mặc sức mà ăn. Để nói về cội nguồn, nói về tổ tiên mà không có văn, có chữ thì sẽ nói lại với hậu thế bằng gì? Trong khi người đời ai cũng biết… bia đá rồi cũng mòn, mà bia miệng thì vẫn…. trơ trơ! Văn hóa chính là nó, là thứ tạo ra niềm kiêu hãnh vững bền. Những kẻ buôn gian, bán lận, những kẻ giàu có bất chính, cả những kẻ nhờ thể chế để lường gạt mà mà trở thành lắm bạc nhiều tiền…. chính họ lại càng hay đi tìm điều được gọi là văn hóa, để che lấp cái ác, cái thủ đoạn đã giúp họ có được lắm tiền nhiều của. Họ làm các biệt thự kiểu cách, tìm mua những đồ cổ mang trong mình những kho tàng văn hóa của quá khứ lịch sử, họ quẳng ra cả đống tiền mua một dàn máy nhạc có giá hàng năm, bảy trăm triệu… chỉ để nghe nhạc sến. Ơn Giời, thông qua chính những di cảo của những người thân của mình để lại, suốt nhiều năm, mắt tôi ngày càng mở to hơn, nhìn rõ hơn những con chữ mang cái phần hồn của dân tộc này trong quá khứ. Khi tôi còn là một kẻ vô thức, vô thức không phải chỉ do bản năng, mà vô thức còn do môi trường tạo dựng. Vô thức do ngoại cảnh mang lại tồi tệ đến mức, gần bốn mươi tuổi, mới rón rén hỏi bố: “Cha ơi, mộ ông nội ở đâu? Con muốn biết mộ ông nội”. Cha tôi im lặng như người điếc, cho dù tôi hỏi ông đến lần thứ hai. Phải mất cả chục năm sau tôi mới biết vì sao ông im lặng….?! Hóa ra ông sợ, ông như con chim từng trúng đạn, lại còn thường xuyên bị chì chiết, đay nghiến từ cuộc sống tinh thần, tư tưởng, môi trường ông từng tồn tại, rằng bố cậu thế này, bố cậu  thế kia…. Sau cái sự việc đó, tôi cũng mới biết, suốt chín năm theo cuộc kháng chiến gian khổ, cho đến lúc có hòa bình 1955, cha tôi ba lần bị tuyên án tử hình! Ba lần! Trước bao nhiêu và bao nhiêu những bất thường đó trong cuộc sống, cả trong gia đình lớn và nhỏ, làm sao tôi im lặng?! Nhất là khi tai tôi, ơn Trời, hệ số nghe rất cao, mắt tôi cũng ơn Trời, ở tuổi này vẫn chưa phải dùng kính, vậy không lẽ tôi lại chỉ biết ung dung mà nâng ly whisky, vênh váo phì phèo điếu Dunhill…. Rồi nhờ lòng liêm sỷ, nhờ thế giới bạn bè cao thượng, nhờ sự dẫn đường chỉ lối của các linh hồn cao quý, nhưng cái nhờ lớn nhất cần được nhấn mạnh, đó là nhờ tính trong sáng và cuộc đời trung thực được bộc lộ trong những di cảo của Nguyễn Văn Vĩnh, nó khác hoàn toàn những gì ‘Họ’ từng mỉa mai, xuyên tạc.  

Cuốn sách Hoa Một Mùa được đưa về thắp hương tại khu mộ của gia tộc học giả Nguyễn Văn Vĩnh tại nghĩa trang Bãi Sấu, Phượng Dực, Phú Xuyên, Hà Nội

Hôm nay, tôi hoàn thành cuốn sách thứ sáu, nhờ ý tưởng từ bộ sách dự kiến nhiều tập, và cuốn sách này chắc là duy nhất, gồm hầu hết những sáng tác văn học của người bác ruột, nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, lòng dạ tôi mênh mang tự hào. Tôi đã dâng cuốn sách trước phần mộ của ông và thưa rằng: “Chúng con biết ơn ông, biết ơn những giá trị văn hóa mà ông đã để lại cho đời, và đã giúp chúng con ngẩng cao đầu!”. Hà Nội, hôm nay, ngày 8 tháng Mười năm 2018. NGUYỄN LÂN BÌNH  Chú thích:
  1. Từ điển châm ngôn cuộc sống.
  2. Hồng Lâu Mộng, tác giả Tào Tuyết Cần – Cao Ngạc, ra đời giữa thế kỷ 18 đời Nhà Thanh.
  3. Chính trị viên đại đội, chức danh của một cán bộ đại đội, chuyên trách theo dõi chính trị, tư tưởng.
  4. Miếng da lừa, xuất bản năm 1831 tại Pháp. Tác phẩm này ra đời trước tác phẩm đồ sộ của Balzắc là Tấn Trò đời.
  (Ảnh thắp hương sách ở khu mộ). ===============

2 Responses

  1. Bình ơi, bài ” Sách nuôi người lớn khôn ” của Bình rất hay, tôi là người mê đọc sách từ bé nên rất tâm huyết bài này. Nói thật với Bình cuộc sống của tôi bây giờ đọc là 1 hoạt động không thể thiếu, 1 ngày không đọc 1 cái gì đó tôi không chịu được, và sự không đó làm tôi thấy cuộc sống nhàm chán.Bài này hoàn toàn đúng với suy nghĩ của tôi.Bài này chứng tỏ khả năng viết văn của Bình càng ngày càng lên, đúng là các cụ cho ăn ” lộc ” đấy . Chúc mừng Bình vì quyển sách đã xuất bản& vì mọi sự khác. Tôi khá thích quyển Nguyễn Nhược Pháp cả về nội dung & hình thức, quyển này chắc chắn sẽ được nhiều người đón nhận, văn học nó không kén người đọc như sách về các lĩnh vực khác
    Chào Vân

  2. Đi từ vô thức đến nhận thức sâu sắc về một vấn đề là cả một chặng đường dài tìm kiếm chân lý, tích luỹ kiến thức và nghiêm túc làm việc. Chúc mừng thành công hôm nay của anh.
    p/s. Vì bức ảnh “thả thính” từ năm 1972 mà cuốn “Miếng da lừa” đang bị săn lùng đấy ạ!

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  
October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Social Network