Lễ phát phần thưởng tại trường Quốc Tử Giám – Huế 22.6.1913

 

 Lời dẫn:

Năm 1803, Vua Gia Long cho xây dựng Đốc học đường, được xem là trường Quốc học đầu tiên của Triều Nguyễn. Năm 1820 trường chính thức mang tên Quốc Tử Giám dưới thời vua Minh Mạng.

Vào thời vua Duy Tân (Nguyễn Phúc Vĩnh San), tại lễ tốt nghiệp và trao phần thưởng cho các thí sinh của trường Quốc Tử Giám diễn ra ngày 22/6/1913, Học bộ Thượng thư Cao Xuân Dục (Bộ Trưởng Giáo dục), một người đã từng phản đối việc chủ trương thay chữ Nho bằng chữ Quốc ngữ, đã đọc một bài diễn văn được viết bằng chữ Quốc ngữ.

Được tin, Nguyễn Văn Vĩnh đã tỏ ra vô cùng vui mừng và đã gửi điện chúc mừng ngài Thượng thư. Bởi lẽ năm 1912, Nguyễn Văn Vĩnh đã xin trực tiếp gặp ngài Thượng thư Bộ Học, và trân trọng kính trình một cuốn sách viết về cách học chữ Quốc ngữ. Nguyễn Văn Vĩnh đã tự coi việc ngài Thượng thư viết và đọc diễn văn bằng chữ Quốc ngữ, thay vì chữ Nho, là kết quả của việc đọc cuốn sách cách học chữ Quốc ngữ mà Nguyễn Văn Vĩnh đã dâng lên. Nguyễn Văn Vĩnh đã tâm sự:

“Ngày nay quan Học-bộ Thượng-thư ngài lại dùng ngay chữ quốc-ngữ mà diễn tại một tràng-học to nhất trong nước, thực chủ-nhân lấy làm hân-hạnh, khác nào như người đi giảng đạo mà đã mộ cho Chúa được một người sùng mới, cao sang quyền thế trong nước”. (Quốc-ngữ nguyên huân – Le Tripomphe du Quốc-ngữ. ĐDTC 1913).

Ảnh chụp trước cửa trường Quốc học Huế năm 1913. Nguồn Phănxipăng

Nguyễn Văn Vĩnh đã đề nghị xin nguyên văn bài diễn văn của Học bộ Cao tướng quân Cao Xuân Dục (cách nói của Nguyễn Văn Vĩnh) để đăng đàn trên báo chí với mục đích (theo Nguyễn Văn Vĩnh) vì là một bài văn hay, kỳ tích kỷ niệm cho lịch sử văn chương Quốc ngữ.

Đáng tiếc, Nguyễn Văn Vĩnh đã không nhận được bản gốc của bài diễn văn bằng chữ quốc ngữ, mà chỉ nhận được bản dịch ra tiếng Pháp do Triều đình gửi đến các cơ quan thông tấn của Phủ Toàn quyền ở Hà Nội lúc đó.

Nguyễn Văn Vĩnh đã quyết định dịch lại từ bản tiếng Pháp bài diễn văn của ngài Bộ Trưởng sang chữ Quốc ngữ và cho đăng báo cùng với bài diễn văn của ngài Khâm sứ Trung Kỳ Jean Francois Eugène Charles (Résident superieur de l’Annam)* đọc tại buổi lễ.

Chúng tôi nhận thấy việc đăng lại bài diễn văn của Bộ Trưởng Giáo dục Cao Xuân Dục được Nguyễn Văn Vĩnh dịch lại từ tiếng Pháp, sẽ không lột tả được hết cái thần thái của tiếng Việt vào giai đoạn lịch sử đó, đặc biệt người đọc cũng mất cơ hội để chứng kiến cái ngôn ngữ tiếng Việt được sử dụng dưới bộ óc của một ngài Bộ Trưởng có vai trò quyết định trong việc quảng bá, sử dụng chữ quốc ngữ ở một thời điểm lịch sử rất nhạy cảm đối với cuộc cách mạng soán ngôi chữ Hán của chữ viết tiếng Việt được La Tinh hóa.

Vì vậy, chúng tôi xin chỉ giới thiệu đến các quý vị và các bạn, bài diễn văn của quan Khâm sứ Trung Kỳ Charles được Nguyễn Văn Vĩnh dịch ra tiếng Việt và đăng trên tờ báo thuần Việt đầu tiên ở phía Bắc Việt Nam, tờ Đông Dương Tạp chí. Mục đích để bạn đọc hiểu thêm quan điểm của người Pháp Thực dân trước yêu cầu sống còn của sự nghiệp giáo dục bản sứ và vai trò lịch sử của chữ Quốc ngữ vào thời điểm những thập niên đầu thế kỷ 20.

Tannamtu.com

   

DIỄN VĂN CỦA QUAN KHÂM SỨ Jean Francois Eugène Charles

Kính trình liệt-quí đại-thần,

Thưa các ngài,

Các anh em học trò!

Tôi tiếc rằng Hoàng-thượng năm nay không đến ngự được lễ ban-thưởng cho học trò Quốc-tử-giám. Chốn Kinh-thành mấy bữa nay nóng nực, cho nên Bệ-hạ ngài ra ngự mát ở bờ biển. Vậy tôi kính dâng mấy nhời vấn-an, xin các quan chuyển tấu hộ cho.

Ngày nay Nhà-nước mới trọng-dụng cử tôi vào nhậm chức to nhớn này, mà lại được dịp đến chủ tọa lễ này, thực lấy làm hân hạnh. Nhân có dịp ấy, thì tôi mới tỏ được để các quan biết rằng bụng tôi ân cần về việc học, từ sơ-đẳng đến cao-đẳng, bậc nào tôi cũng lo nghĩ mà học lối nào cũng chăm nom, muốn làm sao cho sự học lan đi khắp bàn-dân An-nam.

Này các anh học trò, nước Lang-sa đã hẹn trước mặt-giời rằng: sẽ hết lòng khai hóa để nâng nước này lên cõi hay hơn. Nước Lang-sa sẽ theo ý cực-điểm văn-minh, sẽ theo nền sử-ký còn truyền lại, nhất quyết đưa nước An-nam cho tuần tự tiến hóa, để một ngày kia cũng dự được vào tiến-bộ chung của nhân-loại và của xã-hội ở trên thế-giới. Cái mục-đích cao xa của việc cố gắng của chúng tôi ấy, thì chỉ lấy việc dạy học lan khắp đi làm chính-trâm, vì việc học gây nên và tô nhân-phẩm, hoán tân các nước các dân. Việc ấy cốt ở sự học, chỉ cốt ở sự học mà thôi. Bởi vậy, từ nay trở đi, tôi xin ước rằng hết lòng trù liệu các việc học, xin sẽ hết sức nhiệt-thành mà bận đến chẳng hề chán mỏi.

Mấy năm nay nhân có Hội-đồng cải-lương Học-vụ bàn, thì trong học-quí và trong lệ thi cử Nhà-nước đã đổi đi nhiều.

Nhà-nước Bảo-hộ đã khéo gỡ cái lệ thi cho nó nhẹ bớt những lối thơ phú tình-nghĩa, đã đem thực-học mà tô điểm vào, nhưng mà Nhà-nước vẫn khéo giữ cho khỏi phạm đến những nghĩa nên kính ở trong luân-lý các tiên-thánh tiên-nho và tổ tôn di lại cho. Văn-chương thì Nhà-nước cũng đã đắn đo giữ lại vừa đủ cho óc người có ít văn nó dễ hội những tư-tưởng quảng đại.

Như thế thì từ nay các anh có thể học được mấy khoa mới, xưa nay chưa từng được học, những kiến-thức mới ấy tất là khí-giới mạnh để mà quyết thắng trong cái trường cạnh-chanh tâm-sinh-lý. Có học thì đời người cũng thành hay ra, êm ái hơn, mà các anh có học thì mới hưởng được mọi cách hay của văn-minh buổi mới này.

Các quan Triều đình nhà Nguyễn đầu TK 20 (ảnh minh họa)

Mới được mấy tháng nay tôi có được chịu ân to Nhà-nước cử ra thay mặt quan Toàn-quyền làm chủ-tọa lễ tiến-trường khoa thi Nam-định năm ngoái, tôi có kể cho mấy người thiếu-niên có học-thức nước Nam rằng việc cải lương học-vụ ở bên Tầu mấy năm nay chóng là bao nhiêu, mà việc làm cho sự học được thực-dụng, được dản tiện của tầu làm vội vàng ấy, Nhà-nước cũng tuần tự cho chắc từng bước mà đem vào nước Nam.

Nguyên từ năm 1904, Chánh-phủ Tàu đã ra chỉ-dụ, rồi sau lại có lệ mới các học đường, cải lương việc học, nhưng các chỉ-dụ ấy có định rằng: tuy khoa-cử theo kiểu mới, song những khoa-thi lối cũ cứ để vậy trong ít lâu, làm cách tuần tự. Học trò ai nấy nhiệt-thành mà theo lối học mới cả.

Thành ra chưa hết hạn bãi khoa-cử, mới được hai năm, đến năm 1906, thi cử cũ chẳng có ai ứng nữa, đã phải bỏ đi rồi.

Xem như thế thì biết rằng sự học một nước cần phải theo thời thế mà đổi đi, phải cho kịp cái trình-độ của tư-tưởng và của học-thức người ta nó đã chỉ ra đây.

Có một điều khi ấy tôi ân cần dặn dò các thí-sinh tràng Nam, nay cũng lại dặn lại các anh học-trò đây. Là các anh càng ngày càng nên tập lấy lối vần quốc-ngữ. Cái lối chữ dản tiện lạ ấy, chính là cái máy quí-hóa để mà buông thả cho trí khôn người An-nam được bay bổng đó. Người An-nam mà dùng chữ quốc-ngữ thì có thể lân-la học được đủ mọi khoa, dễ hơn gấp mấy lần chữ-nho là một lối tốn công-phu năm-tháng mới học được đủ chữ mà dùng. Dùng chữ quốc-ngữ thì người An-nam mới nhờ được cái vốn sẵn của nhà, là cái tiếng nói của mình, có túng tiếng thì lấy ngay tiếng Lang-sa mà bỏ thêm vào. Học lấy Âu-thuật ở tại chính-nguồn, ở ngay sách các bậc danh-bút, các bậc chiết-học, các nhà bác-vật Âu-châu.

Như thế thì người An-nam mới gỡ ra được khỏi cái lao-lung văn-chương của nước Tầu nó đè nén nước Nam đã mấy mươi đời.

Thế thì họa chăng người An-nam mới gây dựng được thành một cái thể diện riêng cho nước mình.

BBT báo Trung Bắc Tân văn chụp năm 1919 tại 24-26 Orleans (nay là Phùng Hưng, Hà Nội)

Sau hết tôi muốn noi lệ-thường và lại muốn chiều cái tinh-thần đức Khổng-tử ở nơi này là nơi từ xưa nay vẫn chỉ dạy đạo ngài. Vậy tôi xin đem mấy nhời của ngài ở sách Luận-ngữ, thiên thứ chín, để khuyên các anh cần học:

“Cũng có cây lúa nó không ra bông, cũng có cây ra bông mà hột lại lép. Người đi học mà chẳng nên, thì cũng như cây lúa ấy vậy).

(Miêu nhi bất tú, tú nhi bất thực. Học nhi bất thành, hữu như thứ dá).

 

Người dịch: NGUYỄN VĂN VĨNH

Đông dương tạp chí 1913.

 

* Chiếu theo Hòa ước Giáp Tuất 1874 thì Pháp được quyền bổ nhiệm một công sứ (résident) ở Huế. Hòa ước Quý Mùi 1883, khoản 5 quy định thêm rõ quyền lực của viên đại diện Pháp, sau đổi là Tổng Công sứ Bắc Kỳ và Trung Kỳ (résident général de l’Annam et du Tonkin).

Viên chức người Pháp này đại diện cho Chính quyền Bảo hộ ở Trung Kỳ dưới thời Pháp thuộc, là người được ra vào yết kiến vua nhà Nguyễn cùng trách nhiệm lãnh đạo việc ngoại giao. Viên chức này được lập hành dinh trong Hoàng thành Huế và có đội vệ binh riêng.

Ghi chép và chú giải: Nguyễn Lân Bình.

 

http://www.bbc.com/vietnamese/vert-fut-42919338

One Response

  1. Cảm ơn . Với bài dịch của cụ Vĩnh toát lên ý chí ngôn ngữ tiếng Việt mà cụ đam mê với trí tuệ cũng như mong muốn cao cả cho dân tộc . Xin chúc trang Tân Nam Tử năm mới Thành Công và cũng như ( tiêu chí ) là mang đến cho độc giả thấy được sự tài năng Trời phú mà cụ Vĩnh đã Thế Thiên cùng nhiều Nhân tài khác , góp phần để cho mỗi người Việt Nam có con chữ mà đọc mà viết , đến ngày hôm nay của cuộc đời mỗi con người . Đặc biệt là sự trường tồn của Dân Tộc và đất nước Việt Nam .
    Lê Văn Thảo

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  
October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Social Network