LE TẾT
Coutume touchante d’un peuple famélique
TẾT
Một phong tục cảm động của một dân tộc đói nghèo
(Đăng trên báo L’Annam Nouveau- Nước Nam mới, số 415, ngày 3/2/1935)
Cái Tết, đây là cách rất đặc biệt để đồng bào ta ăn mừng đón một năm mới theo lịch Âm. Đầu tiên cần phải nói, tinh thần của tổ tiên chúng ta, là đã học từ đất nước Trung Quốc láng giềng già cỗi nhưng giàu có hơn, và sống với nền văn minh tinh túy hơn, họ dành nhiều công sức cho việc đón một cái Tết với tinh thần nghệ thuật hơn, nhiều sự tinh tế hơn cho việc chào đón một ngày đầu tiên của mùa Xuân.
Tầng lớp dân cư giàu có, dư giả hơn ở nước ta, cũng học được từ người Trung Quốc việc tiễn năm cũ và đón năm mới theo cách thức văn minh, thanh lịch… Nhưng chết nỗi, của cải, vật chất và tiền bạc, phải là đồng minh song hành với một nền giáo dục tiến bộ, trong khi ở nước An Nam ta còn rất hiếm những khả năng cảm nhận và ý thức được thế nào là sự hưởng thụ, nhất là sự hợm hĩnh lại khá phổ biến ở tầng lớp quan lại và những kẻ lắm bạc, nhiều tiền!
Những người đó cũng tỏ ra ham mê việc chơi hoa và các loại cây cảnh, gần na ná, giống như là lối sống của những kẻ giầu có, mục đích là nhằm để thiên hạ biết, chứ đâu có phải họ là những kẻ yêu hoa cỏ, yêu nghệ thuật. Từ đôi ba những khả năng cá nhân, họ tự tạo ra những điều gọi là công thức cho nghệ thuật, mỹ thuật, rồi tìm cách lan truyền trong dân chúng để mọi người bắt chước theo kiểu “học” để làm ra những sản phẩm lạ, và rồi tự bảo nhau rằng nó độc đáo, nó đầy sự tìm tòi, sáng tạo….!
Tạm gác các câu chuyện của nhóm người “ưu tú” không đông đó, những câu chuyện của cái giới tinh hoa tự nhận, đôi khi còn cả sự ấu trĩ nữa, cho dù họ cũng biết cách tạo ra những điều để gọi là phong tục và duy trì nó, để chúng ta đến với những nét đặc trưng dân gian mang đậm ý nghĩa kèm theo cả sự mạnh dạn.
Dân gian vẫn hay nói: Đầu xuôi, đuôi lọt! Ngày mồng Một Tết sẽ như một sự báo hiệu về cốt cách của những ngày dài tiếp theo trong cái năm mới sẽ tới. Nói gì thì điều cốt yếu vẫn là phải được ăn uống đầy đủ. Ai cũng phải cố công để lo cái ăn, cái uống trong những ngày Tết, và nếu có càng nhiều cho những ngày tiếp theo thì càng tốt. Bao nhiêu những cố gắng đó đều phải lo cho xong và tính tất tật mọi phí tổn giao lại cho năm cũ, và người ta cũng không cộng nó vào thành điềm báo, hay tín hiệu cho năm mới sẽ đến.
Quang cảnh ngày Tết ở Hà Nội những năm đầu thế kỷ XX.
Liệu có phải bấy nhiêu thứ, nó tạo nên cái ý nghĩa và giá trị của một cái Tết?!
Trước Tết, con người ta phải lo trả những món nợ cho những đối tượng không thể không trả, rồi mới quyết định mua sắm các loại thức ăn, thậm chí còn lo chế biến thành các loại đồ ăn sẵn để chí ít trong ba ngày Tết không phải mất công vào bếp, và coi đó như cách tiết kiệm thời gian, sức lực trong những ngày đón năm mới.
Sau chuyện lo ăn, đến chuyện lo mặc cũng là mối lo chẳng thua kém tầm quan trọng khi người ta đón Tết. Có người đã tìm cách chuộc lại chính những bộ áo, quần đã đem đi cầm ở hiệu cầm đồ. Có người tìm cách may mới quần áo bằng những khả năng có thể. Những người may đồ mới, với họ, luôn ưu tiên số lượng trước, rồi hãy nói đến chất lượng và kiểu cách. Người culi kéo xe khốn khổ sẽ thấy tự bằng lòng nếu như bảo đảm là sẽ sắm được một chiếc áo Tây cũ. Nếu không, chí ít cũng phải sắm được cái khố mới hơn cái mà mình đang mặc.
Để rồi, cuối cùng, ai cũng sẽ cố gắng để ăn những thứ mình vẫn ăn, và ai cũng sẽ cố gắng để mặc những thứ mình vẫn mặc, có điều nó sẽ nhiều hơn, và cái hơn đó, nó sẽ đem tới một sự ảo tưởng dịu dàng rằng, sang năm mới, những ngày tiếp theo của một năm, mình sẽ đầy đủ hơn, sung sướng hơn….cho những ngày tiếp nữa.
Với những kẻ giầu sang, bằng cái họ thể hiện rằng họ là sự thanh cao, tế nhị, sẽ trở nên lố lăng hơn bên cạnh cái sự lo toan chẳng khác gì những người nghèo khó. Những sự sang trọng mà họ phô diễn cũng chỉ để chứng minh rằng, họ là những kẻ dư giả hơn trong việc phục vụ hai cái nhu cầu muôn thủa của thằng người là: ăn và mặc!
Khi đón Tết, tình cảm hướng về Tổ tiên, sự thành kính trong tâm lý đối với những người thân đã khuất, thực chất là tùy thuộc lối nghĩ của người sống. Việc đặt lên ban thờ la liệt những vật phẩm đến mức thừa thãi, chỉ chứng minh cho người còn sống sự dôi dư của chính họ. Họ còn dư thừa cả những kỷ niệm với những người đã chết. Mọi việc chỉ nói lên cái hình ảnh đặc chưng của chính họ, những người sống.
Lòng thành kính đối với Tổ tiên của những kẻ giầu và những người nghèo trước yêu cầu về chuyện ăn uống là giống nhau, bởi lẽ, họ chỉ dâng lên cho Tổ tiên chính những thứ mà họ thích, những thứ chỉ chuyên dành cho bản thân họ. Thật may, vì những vong hồn của những người mất, chỉ ăn một cách tượng trưng những thứ mà người sống dâng lên.
Bàn thờ ngày Tết của một gia đình khá giả ở Bắc Việt Nam đầu thế kỷ XX
Các chi phí của những ngày đầu năm dành cho sự tưởng nhớ đến Tiên tổ và những người đã mất, phải kể đến việc mua đồ mã các loại, quần áo, mũ nón, giày dép, vải vóc, tiền vàng âm phủ. Mọi người chỉ mất khoản tiền nhỏ hơn nhiều so với những đồ vật thật được biến thành mã.
Tôi xin tránh cho các bạn đọc những lời chế diễu tế nhị khi nói đến phong tục của cái thời khó khăn, kinh tế khủng hoảng, tiền bạc hiếm hoi này.
Khi nói về những tập quán đón Tết, đúng nó là như vậy đấy. Nhưng có thể, chính vì nó như thế nên nó lại trở thành hấp dẫn đáng yêu đối với chúng ta. Chúng ta đều thấy các tập quán, phong tục của cái Tết nó như một bài thơ mà trong đó vẫn còn mãi tính ngây thơ của ý nghĩa về các phong tục, kể cả những điều nghĩ ra, tạo ra của những kẻ giầu có đã mang đến cho cái Tết.
Sự trịnh trọng trong cư xử của ngày Tết, kể cả với những người nghèo, những người mà thường nhật họ vẫn thô thiển, cục cằn, những người đột nhiên họ văng bậy, chửi tục, thậm chí ẩu đả… thì vào những ngày Tết, họ lại trở nên nhã nhặn, ân cần, thân thiện ngay cả khi những tràng pháo nổ điếc tai, không theo một trật tự nào, nhưng hình như họ không dấu được sự hân hoan, tràn đầy niềm vui cho dù niềm vui đó cũng chẳng có đối tượng và lý do nhất định. Tất cả những điều đó có lẽ được áp dụng cho tất cả mọi người. Thứ niềm vui và sự trịnh trọng liệu có phải là hệ quả của suốt mười hai tháng, họ phải lo âu, lận đận với cái cuộc sống không hơn gì chó mà họ đã phải chịu đựng với niềm tin, rằng năm mới, sẽ có thể là một giai đoạn đem đến nhiều thành quả có thể nhìn thấy được?
Điều tốt, cái hay của năm mới, của Tết, xuất hiện như có một sự chỉ huy vô hình, làm che lấp tất cả những khoảng trống trong cuộc sống thường ngày được che dấu với một bề ngoài “hồn nhiên”. Và cái gì là tốt, trong cái niềm vui giả tạo đang khoác lên tất cả những khía cạnh của vẻ tự nhiên, điều mà người giàu và người hạnh phúc đang chia sẻ. Họ không biết rằng, ở đất nước chúng tôi, cảm xúc sự khinh bỉ những hình thức được che đậy đó, lại là tính cách nổi trội trong các xã hội ở châu Âu.
Việc này, hình như cũng đã biện hộ cho sự chê trách tiềm ẩn của nhiều người phương Tây phong nhã, thường chỉ biết, rằng người An nam mộc mạc chất phác đến mức quê mùa, kể cả nhiều lúc dù có cái vẻ phóng khoáng bất chấp cả những thành kiến thời xưa của cha ông.
Xin đừng đòi hỏi tôi để phải nói rằng, mọi định kiến đều là xấu! Cũng có những định kiến làm nổi bật cả giá trị tinh thần và cả tính tư tưởng đặc trưng của nền văn hóa cổ của ông cha chúng ta. Điều này không phải chỉ cần được bảo tồn, mà hơn nữa cần cố gắng hiểu và nắm vững tất cả những ý nghĩa và giá trị của nó, để làm sao, kể cả đối với những người hay phê phán khó tính nhất, cũng phải nhận thấy cái tinh thần cao cả mang tính giáo dục của những tập quán dân gian, và qua đó nâng tầm giá trị của nó trong cuộc sống mới của chúng ta hiện nay.
Vậy là cũng đã có người la toáng lên như phát kiến, là hoàn cảnh cuộc sống hiện nay, cần phải biết duy trì và giữ gìn nó, nếu không, nó sẽ chỉ tồn tại như những quái dị được sót lại từ quá khứ , và biến nó thành những trò tiêu khiển mà thôi.
Chúng ta hãy dẹp bỏ nếu như vậy, chí ít, cũng nên chấp nhận nó như một bóng hình vô hại, dù gì, nó cũng giúp ta nhớ đến như những kỷ niệm êm đẹp của truyền thống.
NGUYỄN VĂN VĨNH
Người dịch: Nguyễn Kỳ (con trai thứ sáu của học giả NVV).


