ÔNG NGUYỄN VĂN VĨNH TRONG CON MẮT TÔI

LỜI DẪN.

Thưa các quý vị độc giả!

Việc trong cuộc sống, khi có một con người, một sự nghiệp, một hành vi, nếu nó tạo nên những tác động mang tính dấu ấn với cộng đồng, với xã hội, với lịch sử, mà qua đó, nó có thể để lại những phản ứng thuận, nghịch của dư luận, là điều thường gặp trong thực tế. Tuy nhiên, để kết luận những ảnh hưởng đó là tiêu cực hay tích cực với xã hội, nhất thiết phải có độ lùi của thời gian, xã hội mới có cơ hội để, đánh giá, kết luận. Đặc biệt, không ít trường hợp, khi những người cùng thời với con người đó, với sự việc đó, do đứng quá “gần” với đối tượng đã tạo nên những dấu ấn đó, nên không loại trừ việc bị “cận” trong cách quan sát và nhận thức, cũng là chuyện dễ hiểu.

Trường hợp học giả Nguyễn Văn Vĩnh trong lịch sử hình thành, phát triển nền văn học và văn hóa Việt Nam cận đại, chắc chắn đã, hiện và sẽ là trường hợp hy hữu để lịch sử và xã hội sẽ tiếp tục kiên nhẫn “ngó nghiêng”, sẻ ngang, bổ dọc, hy vọng có một ngày, phát hiện rõ những gì ẩn chứa trong con người, sự nghiệp và tư tưởng tiến bộ siêu tốc của ông. Tin tưởng như vậy bởi lẽ không dễ dàng gì để những người cùng thời với ông, gọi ông là Người Công dân Vĩ đại.

Trong hành trình tiếp tục chứng minh với xã hội  những điều “bị” hậu sinh gọi là “gai góc” khi bàn về Nguyễn Văn Vĩnh, chúng tôi xin được gửi đến các bạn một bài viết của một con người được mệnh danh là uyên bác nhưng là hiện thân của sự trực ngôn với sự quyết liệt ít có trong xã hội mà ông tồn tại.

Chúng tôi cho rằng, tác giả bài viết đã để lộ toang sự nung nấu, sự ấn tượng và cả  sự day dứt của một người mang trong lòng những hiểu biết, sự thầm phục, quý mến đến mức kính nể, nhưng dứt khoát không sùng bái, không thần tượng hóa đối tượng mình trân trọng… Một tính cách không khác bao nhiêu so với chính đối tượng mà tác giả luận bàn. Đó là học giả Phan Khôi (1887-1959).

Có những khía cạnh nêu trong bài viết không dấu được sự “cận thị” về nhãn quan chính trị của tác giả, nhất là khi chúng ta đã có cả trăm năm để lùi lại mà chiêm nhiệm, để phán xét. Thực tế này, theo chúng tôi cũng không phải là điều gì khác lạ hay trái với quy luật cuộc sống.

Trân trọng!

tulieu1

Phan Khôi (người đội mũ) chụp chung với Tố Hữu (bên phải ảnh), Văn Cao

và Tú Mỡ (bên trái ảnh) tại Việt Bắc – Ảnh: gia đình cung cấp ( báo TN 7.10.14)

 

Tuần báo Sông Hương ngày 1.8.1936

Mục: Phê bình

(Về nhân vật)

ÔNG NGUYỄN VĂN VĨNH TRONG CON MẮT TÔI

Nói từ trong con tim nói ra, tôi có phục ông Nguyễn – Văn – Vĩnh thật. Tôi phục ông ở chỗ có chí tự lập, ở chỗ không mộ hư vinh. Tôi ưa ông nhất là tại cái điểm thứ hai nầy. Kể trong ba bốn mươi năm nay, cả Bắc-kỳ, ông nào có máu mặt cũng chạy cho được cái Bắc-đẩu-bội-tinh, cái Hồng-lô-tự-khanh, cái Hàn-lâm gì đó, cùng không nữa cũng đồng kim-tiền, chiếc kim-khánh. Chỉ một mình ông Vĩnh, muốn có thì giống gì mà chẳng có, nhưng ông đã chẳng có gì cả, ông chỉ là bạch-đinh. Tấm lòng nguội lạnh đối với hư vinh ấy đã đưa ông lên làm tiêu-biểu cho bạn trẻ chúng ta sau nầy.

Bởi chịu ông những chỗ ấy nên sau khi được tin ông qua đời tôi đã toan viết một bài về ông trên báo. Kế thấy có nhiều báo đã viết, tôi lại thôi.

Thôi, rồi bây giờ tôi lại viết. Là vì thấy có nhiều báo nói về ông thất thực, tôi muốn viết để vớt-vát dư luận lại lấy một vài.

Người ta tôn ông Vĩnh là đại-văn-hào rồi người ta còn đòi dựng đồng-tượng cho ông nữa.

Lạ sao tôi thấy người Việt-Nam ta cái gì cũng giữ mực trung-dung, duy có sự yêu người hay ghét người lại chạy đến cực đoan.

Yêu ông Vĩnh, ngày nay người ta đòi dựng đồng-tượng cho ông; nhưng mười năm về trước, ghét ông Vĩnh, người ta lên án ông là phản quốc, là bán nước!

Đều không đúng cả. Trước sau luận về ông, người ta đều bị cảm-tình xô-đẩy.

Kỳ thực, ông Vĩnh không có cái tội gì đến gọi là phản quốc hay bán nước, và ông cũng không có cái công gì đến quốc-dân phải dựng đồng-tượng cho ông.

Giữa chúng ta, ông Vĩnh đáng gọi là kẻ sĩ hào-kiệt. Sự lập-thân xử thế của ông đã đảm-bảo cho ông đáng được cái tên ấy một cách vững-chãi.

Nhưng, theo sự phẩm-bình chặt-chịa của một hạng người trong nước, hạng người ấy đại-khái là nhà nho, thì ông Vĩnh dù có là hào-kiệt chăng nữa mà không là quân- tử. Theo chỗ phân biệt của nhà nho: quân-tử là cái huy-hiệu về tâm-đức, đáng trọng hơn hào-kiệt là cái huy-hiệu về tài trí, như Nguyễn-Du có nói: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Hạng người ấy họ tuy có phục ông Vĩnh về đằng tài nhưng họ không chịu lượng thứ cho ông về đằng tâm.

Cả đời ông Vĩnh có hai việc hơi mơ-hồ, sự thực nó thế nào chỉ một mình ông biết, đã rước về cho ông lời bình-phẩm khắc-khe ấy. Tức là giữa cái đảng-họa Đông-kinh-nghĩa-thục năm 1908 mà ông được thoát và sau cuộc tự-trị bày trò năm 1918 mà ông “có câu”.

Hai việc ấy giá ở vào xã-hội khác thì dễ-thường ông Vĩnh cũng không đến mang tiếng. Về việc trước, người ta cho như gặp lúc cháy nhà, con chuột nào có thể thoát thân được thì để mặc cho nó thoát thân; về việc sau, người ta cũng phân-bì được với những ông tướng đánh giặc lập công: thí đi bao nhiêu mạng sĩ tốt để một mình được cắt đất phong hầu, hưởng sự an-vinh tôn-quí. Huống chi trong hai lần đó, chúng ta thấy ông Vĩnh chỉ làm được việc cho mình thì có, chứ chưa hề làm hại đến ai.

Tuy vậy, ở xã hội ta, nhà nho bao giờ cũng có sẵn rìu búa trong tay, gặp lúc thì giở ra để duy-trì nhân-tâm thế-đạo; những việc như thế khó lòng cho họ bỏ qua đi được. Theo tôi, tôi muốn xí-xóa cho ông những điều đó, nhưng tôi biết người ta không chịu xí-xóa.

Ông A. Varenne vì muốn sang làm Toàn-quyền Đông-Pháp bị đảng của ông trừ tên ra mà người Pháp chẳng lấy làm đều, chẳng ai hề chỉ-trích ông Varenne về việc ấy. Giá ở vào xã-hội Việt-Nam thì ít nữa trên báo họ chửi cho mươi lăm bài. Bởi vậy nhiều lúc tôi nghĩ mà lấy làm may cho ông Varenne bao nhiêu thì tôi lại thương-hại cho ông Nguyễn-văn-Vĩnh và những người như ông bấy nhiêu.

Một người còn có chỗ để cho dư-luận ngờ vực như thế thì làm sao ta lại nói đến sự dựng đồng-tượng cho người ấy được ư? Còn chưa kể đến người ấy chẳng có công-đức gì vĩ-đại đủ trùm lên một xã-hội hay một dân tộc.

Ông Nguyễn-Văn-Vĩnh, cho đi rằng có công-đức với xã-hội Việt – Nam về phương diện văn-học; nhưng chưa phải là cái công-đức vĩ-đại đáng cho chúng ta kỷ-niệm đời nọ qua đời kia.

Ông đã hô-hào cho người nước học quốc-ngữ, ông đã khai sơn cho nghề nhà in xứ ta, ông đã dịch nhiều sách tây ra tiếng mẹ đẻ, ông đã trước hết lập cho thứ tiếng ấy một lối văn giản-dị; hết thảy những điều đó khiến chúng ta phải tôn-kính ông, tôn-kính một cách vừa phải.

Chữ “văn hào” tương-đương với chữ “grand écrivain” trong tiếng Pháp, thường để xưng nhà-văn sáng tác chứ không dùng để xưng nhà văn dịch-thuật. Văn ông Vĩnh có tiếng thật ra chỉ về văn dịch mà thôi, những cái chính tay ông viết ra, không có gì được truyền cả, thế mà gọi là “văn hào” cũng khí quá, huống chi còn đeo thêm chữ “đại” nữa!

Ngoài mấy bản kịch của Molière, ngu-ngôn của La Fontaine, tiểu-thuyết của Dumas fils, của Victor Hugo mà ông Vĩnh đã dịch ra, ông không có một cuốn sách nào chính tay ông viết ra cã, như thế mà gọi ông là “văn hào”, hơn nữa là “đại văn hào”, chắc ông không chịu, vì ông sinh-tiền là người biết điều lắm, không hay dởm như kẻ khác.

Trong con mắt tôi, ông Nguyễn-văn-Vĩnh là một trang hào-kiệt. Mạnh-tử có nói: “Đến như kẻ sĩ hào-kiệt thì dù không có Văn-vương cũng dấy lên”.

Trong câu nói ấy thấy người hào-kiệt đầy cái khí-phách tự-lập, đúng như cái khi-phách của ông Nguyên-văn-Vĩnh chúng ta.

PHAN KHÔI.

cu-phan-khoiCụ Phan Khôi ( 1887 – 1959)

Sơ lược về học giả Phan Khôi.

Phan Khôi sinh năm 1887 tại Điện Bàn, Quảng Nam. Cha ông là Phan Trân (1862-1944), Chi phủ Điện Khánh. Mẹ là Hoàng Thị Lê, con gái của Tổng Đốc Hoàng Diệu (1829-1882).

Phan Khôi học Hán văn từ người thầy Trần Quý Cáp (1870-1908) liên tục 10 năm, từ lúc 9 tuổi. Khi 19 tuổi, ông đỗ tú tài.

Từ 1906, Phan Khôi đã bắt đầu có quan hệ với hai chí sĩ nổi tiếng là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh.

Năm 1907, Phan Khôi ra Hà Nội tham gia Đông Kinh Nghĩa Thục và làm việc trong tờ báo in bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên ở Bắc kỳ do Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là Chủ bút.

Năm 1908, Đông Kinh Nghĩa Thục bị đàn áp, Phan Khôi lánh xuống Nam Định, Hải Phòng rồi quay trở về Quảng Nam tham gia Phong trào Văn Thân (1) cùng với Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947). Phan Khôi bị bắt khi tham gia vụ Trung kỳ dân biến. Năm 1913, ông được ân xá.

Ra tù, Phan Khôi về quê lập gia đình và mở lớp dạy học bằng chữ Nho tại nhà. Năm 1916, ông ra Hải Phòng rồi trở lại Hà Nội và làm việc cho tờ báo Nam Phong do Phạm Quỳnh (1892-1945) là Chủ bút. Ông và Phạm Quỳnh mâu thuẫn, ông vào Sài Gòn làm cho tờ báo Lục Tỉnh Tân Văn.

Năm 1920, Phan Khôi lại trở lại Hà Nội làm cho tờ Thực nghiệp Dân báo và tờ Hữu Thanh.

Cuối năm 1920, Phan Khôi kết hợp với vợ chồng người Anh là WilliamGrace Cadman (1883-1948), dịch toàn bộ Tân Ước và 1/3 Cựu Ước (Kinh Thánh) từ bản Hán văn và Pháp văn ra chữ Quốc ngữ và hoàn thành năm 1925.

Có tài liệu viết rằng, năm 1925, khi Phan Châu Trinh từ Pháp về, đã đề nghị Phan Khôi việc viết lại lịch sử cuộc đời ông.

phan-khoi-doc-dien-van-tai-le-ky-niem-lo-tan-1956Phan-Khôi-đọc-diễn-văn-tại-lễ-kỷ-niệm-Lỗ-Tân-1956

Từ năm 1928 đến 1932, Phan Khôi viết bài thường xuyên cho các báo: Đông Pháp Thời báo, Thần Chung, Phụ nữ Tân văn, Trung lập, Quần báo (in chữ Hán dành cho Hoa kiều). Ông viết bài đều đặn cho Đông Tây Tuần báo phát hành ở Hà Nội. Đây là giai đoạn quan trọng, danh của Phan Khôi được hình thành có tính nổi bật do có chất giọng khảng khái trong khuynh hướng phản biện, cùng nhiều tư tưởng duy tân. Các bài viết được nhiều báo sử dụng và dân chúng quan tâm.

Theo nhà nghiên cứu Phạm Xuân Thạch, Phan Khôi đã trở thành một trong những trí thức hàng đầu có công tạo ra mặt bằng tri thức và văn hóa cho xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, nhưng khác với họ, ông thể hiện mình ở vai trò phản biện, và sự phản biện đó đem lại chiều sâu mới cho tri thức(2) .

Kiểm chứng quan điểm này, chúng ta có thể đọc lại những bài như: “Viết sử cho đúng”, phê bình Trần Huy Liệu (1901-1969) đăng trên Đông Pháp Thời báo tháng 5.1928. Hoặc vào năm 1930, trong bối cảnh chính trị Đông Dương cực kỳ phức tạp, Phan Khôi cũng là người đã khai sinh thể loại bút chiến văn học với Trần Trọng Kim (1883-1953) và Phạm Quỳnh trên báo Phụ nữ Tân văn, với Nguyễn Phan Long (1889-1960), Huỳnh Thúc Kháng trên báo Trung Lập.

Năm 1931, Phan Khôi với bút hiệu Thông reo còn có bài kích động và thách đố Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh “Ai giỏi đoán thì đoán cái nầy chơi”, trên báo Trung lập xuất bản tại Sài Gòn số 6331, ngày 24.12.1930, trước việc đối chọi giữa hai khuynh hướng chính trị Quân chủ Lập hiếnTrực trị. Tác giả đã đặt cược với Nguyễn Văn Vĩnh về việc chuẩn bị cho ra báo in tiếng Pháp với quan điểm đối lập với Nhà cầm quyền, liệu rồi sẽ sống được mấy ngày, trước sự hà khắc, cường bạo trong đường lối chính trị của Chính quyền Thực dân hay không?!

Năm 1933, Phan Khôi ra Hà Nội làm việc cho tờ Thực nghiệp Dân báoPhụ nữ Thời đàm. Năm 1935 trở lại vào Huế và lập tuần báo Sông Hương và ông là Chủ bút. Năm 1937, ông lại về Sài Gòn làm giáo học và vẫn tiếp tục viết và gửi bài cho các báo ở cả hai miền Nam, Bắc.

Năm 1941, Phan Khôi trở lại quê nhà.

Tháng 8. 1945, Phan Khôi đã ngạc nhiên khi nhận thấy trong gia đình, có đến bốn người là Việt Minh. Vào cái khoảnh khắc giao thời khắc nghiệt đó của lịch sử, các lực lượng chính trị, các tổ chức có danh, đã mời ông tham dự vào bộ máy của họ, vì tất thảy đều nhìn thấy sự tiềm ẩn những năng lực khác người của ông trong lĩnh vực văn hóa xã hội. Chính quyền CM Quảng Nam đã mời Phan Khôi ra Hà Nội theo yêu cầu của Chính phủ VNDCCH. Sau đó, Phan Khôi đã đi theo kháng chiến 9 năm và làm việc trong Hội Văn nghệ VN.

Từ 1955, sau tiếp quản Thủ đô, Phan Khôi về Hà Nội. Ông tiếp tục làm việc trong Hội Văn nghệ VN. Năm 1956, Phan Khôi cùng với Tế Hanh (1921-2009) là những đại biểu được Bộ Văn hóa cử đi tham dự lễ kỷ niệm 20 năm ngày giỗ nhà văn nổi tiếng Trung Quốc, Lỗ Tấn (1881-1936). Cũng thời gian này, ông đứng tên làm Chủ nhiệm báo NhânVăn mà sau này, tờ báo trở thành sự kiện chính trị động trời dưới chế độ VNDCCH. Phan Khôi viết nhiều bài trong tập Giai phẩm có nội dung phê bình một số cán bộ lãnh đạo công tác văn hóa, văn nghệ vẫn với chất giọng mang đậm nét Phan Khôi.

Đây là giai đoạn bi ai của lịch sử văn hóa VNXHCN khi hình thành cụm từ Nhân văn Giai phẩm. Các thế hệ đi sau, khi tiếp cận với cụm từ này, đều thấy phảng phất điều gì đó ái ngại và kinh sợ. Phan Khôi và Nguyễn Hữu Đang (1913-2007) bị quy là những người lãnh đạo tinh thần của một hoạt động tư tưởng, được gọi là Phong trào. Nhiều thành viên trong nhóm đã phải đi tù khi Phong trào bị giải tán. Phan Khôi bị cấm viết từ đây cho đến khi qua đời ở tuổi 73.

Có thể nói, điều đau buồn đáng nói nhất trong sự nghiệp của Phan Khôi, là vì tính cách trực ngôn, vì khái tính, vì sự tự do trong tư duy dân chủ, mà đến giai đoạn khủng hoảng, ông đã bị chính những người đồng nghiệp của mình phỉ báng thậm tệ, lên án gay gắt. Đặc biệt, đó là những gương mặt mà các thế hệ đi sau đã từng coi là thần tượng trong văn học và văn hóa VN nửa cuối thế kỷ XX như: Phùng Bảo Thạch (Phó Chủ tịch Hội Nhà báo VN 1959), Nguyễn Đổng Chi (1915-1984), Nguyễn Công Hoan (1903-1977), Tế Hanh (1921-2009), Văn Cao (1923-1995) và nhiều nữa….

Cuộc đời Phan Khôi, ông cũng đã phải trả giá bằng thời gian và sự cay đắng để ngày hôm nay, hậu thế mới biết rõ về ông, nhớ ơn ông và kính trọng ông. Chúng ta cùng đọc lại ý kiến của người con trai Phan Khôi là Phan Nam Sinh, được đăng trên báo Tuổi Trẻ ngày 17.3.2013 trong bài “Cha tôi-ông Phan Khôi” như sau:

“Sao lại có người như cha tôi, suốt một đời đi tìm cái mới cho đất nước, cho khoa học, có khi dấn thân vào cả chốn hiểm nguy, lại một thời gian dài chẳng được ai hiểu cho, mãi tận cuối đời vẫn phải sống trong cô đơn, cô đơn ngay trong chính gia đình của mình? Phải chăng cuộc đời này đã không công bằng, đã quá nghiệt ngã với ông? Hỏi ông còn biết sống với ai, hay cái chết mới chính là sự giải thoát? Năm nay, vào dịp 54 năm ngày ông qua đời, tôi viết câu đối thứ tư dâng lên hương hồn ông:

Đi kháng chiến, đuổi thực dân, tội phản động về cùng chín suối

Đón văn minh, khai dân trí, gương duy tân ở với trời xanh!”.

Suy nghĩ nông cạn về sự kiện Phan Khôi – Nguyễn Văn Vĩnh.

Khởi sự nghiệp làm báo của Phan Khôi, ông đã liên hệ với Nguyễn Văn Vĩnh thông qua tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở Bắc Kỳ – Đăng Cổ Tùng Báo – 1907. Tiếp đến, Phan Khôi cũng lại đi lại con đường Nguyễn Văn Vĩnh đã đi (1910-1911) khi ông vào Sài Gòn làm việc cho tờ Lục Tỉnh Tân Văn (1919).

Cùng là những người tận tâm với nền văn học chữ Quốc ngữ, đều là những người uyên thâm về Hán học, Pháp văn và Quốc ngữ, Phan Khôi thực sự thấm thía những gì Nguyễn Văn Vĩnh đã thể hiện trong suốt quá trình dài liên quan đến nghiệp báo chí. Phan Khôi quá hiểu sự dấn thân của Nguyễn Văn Vĩnh, hiểu cái con người mà không vô cớ, ông gọi Nguyễn Văn Vĩnh là Hào kiệt.

Nguyễn Văn Vĩnh và Phan Khôi đều lo lắng cho đồng bào mình cứ mãi chìm đắm với những tư tưởng Nho giáo cổ hủ. Họ lo lắng cho một nền giáo dục chỉ biết nai lưng học để phục vụ mục đích duy nhất là làm quan (cho dù chính Phan Khôi là nhà Nho học), nếu cứ như thế, bao giờ người dân mới có được những kiến thức phổ thông, xã hội mới có đủ tri thức mà tìm được và xây dựng được nền tảng trí tuệ, để phát triển, để thoát cái cảnh tăm tối và ngu đần!

Những suy nghĩ của Phan Khôi về Nguyễn Văn Vĩnh là hoàn toàn công khai, trung thực khi chúng ta đọc các bài viết của ông trên tuần báo Sông Hương, báo Trung Lập Phụ nữ Tân văn. Sự trung thực trong nhận định của Phan Khôi về Nguyễn Văn Vĩnh dù gì cũng bộc lộ một góc nhìn lịch sử thú vị. Bên cạnh đó, chúng ta còn nhìn thấy một bức tranh chính trị xã hội và văn hóa 30 năm đầu thế kỷ XX. Ngoài ra chúng ta có thêm cơ hội để hiểu rõ hơn cái ảnh hưởng và những tác động xã hội do Nguyễn Văn Vĩnh tạo ra trong giai đoạn lịch sử đó là vô cùng sinh động, thông qua con mắt Phan Khôi, cho dù cái nhìn nào của một cá nhân cũng đều mang tính chủ quan nhất định.

Đáng chê trách cho những gương mặt nào trong quá khứ, đã từng lợi dụng sự thẳng thắn của Phan Khôi khi suy nghĩ về Nguyễn Văn Vĩnh để phục vụ cho mục đích thóa mạ danh dự của Nguyễn Văn Vĩnh, bằng cách trích dẫn nửa vời những suy nghĩ của ông trước sự kiện Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) bị tan rã, vì sao Nguyễn Văn Vĩnh không bị bắt như các thành viên khác:  “…người ta cho như gặp lúc cháy nhà, con chuột nào có thể thoát thân được thì để mặc cho nó thoát thân…”. Hoặc, về những tranh cãi trong việc vinh danh Nguyễn Văn Vĩnh sau khi ông qua đời năm 1936: “…và ông cũng không có cái công gì đến quốc-dân phải dựng đồng-tượng cho ông…”.

Lối trích dẫn theo mưu đồ được tính toán, nhằm dẫn dắt những người đọc thuần túy, những người không có điều kiện để hiểu sự việc một cách chính xác, toàn diện, tạo cơ sở để lôi kéo dư luận vào những điểm tiêu cực của nhân vật, qua đó, xây dựng một nhận thức xấu, phục vụ cho những ý đồ nhỏ nhen mang tính chính trị. Thật là thấm thía khi chúng ta nghe lại câu nói của một nhà chính trị người Mỹ gốc Phi Les Brown: Người lạc quan có thể thấy ánh sáng ở nơi tăm tối, nhưng tại sao kẻ bi quan cứ phải chạy tới thổi tắt nó đi?”.

Tuy nhiên, chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, với những con người nghĩa khí như Nguyễn Văn Vĩnh và Phan Khôi, những con người tuyệt nhiên không bao giờ biết lụy để cầu vinh và lợi, họ không bao giờ ân hận về những gì họ đã làm. Họ chỉ tin vào một điều duy nhất, đó là: Hãy thành thực và tận tâm với lý tưởng mở mang dân trí và trí tuệ cho đồng bào mình, để đồng bào mình sẽ đủ sức xây dựng một cuộc sống tốt đẹp nếu có học hành, có tri thức và trí tuệ, thi dù có bao nhiêu điều thị phi và sự đàn áp của cường quyền, cũng chẳng khuất phục được họ!

Với tôi, Phan Khôi là hiện thân của câu nói: Điều đáng buồn nhất về sự phản bội là nó chẳng bao giờ đến từ kẻ thù. (Mineko Iwasaki).

(The saddest thing about betrayal is that it never comes from your enemies).

BBT Tannamtu.com.

Nguyễn Lân Bình

 

Chú thích:

1/ Phong trào Văn thân là phong trào do các Nho sĩ cổ vũ với mục tiêu: “bình Tây, sát tả” (nghĩa là: “dẹp người Pháp, giết người Công giáo”) để cứu nước, khởi phát từ năm 1864.

2/ Trich trong bài “Dựng lại hành trạng một trí thức” đăng ngày 22.6.2009 tại Chungta.com.

One Response

  1. Thưa các quý vị độc giả!
    Trong bài viết của học giả Phan Khôi, có câu tiếng Pháp được in là “granh escrivain”, mà đúng ra phải viết là “grand écrivain” như ý kiến của nhà sử học Dương Trung quốc lưu ý. BBT chúng tôi không dám sửa khi chép lại để đảm bảo tính nguyên bản của tư liệu. Theo thiển ý, chúng tôi cho rằng đây là lỗi kỹ thuật trong quá trình xếp chữ của nhà in.
    Vậy BBT chúng tôi xin có lời để các quý vị cùng chia sẻ.
    Xin cảm ơn sự quan tâm của các quý vị độc giả!
    BBT.Tannamtu.com
    NLB

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

Social Network