ẤN TƯỢNG SÂU SẮC NHỜ ĐƯỢC ĐỌC MỘT BÀI VIẾT VỀ CHỮ QUỐC NGỮ.

Do tính chất công việc, tôi luôn để ý đến những bài viết có nội dung liên quan đến vai trò của chữ viết.

Khi còn là một cậu học sinh 16 tuổi, tôi đã may mắn được sống ở đất nước hoa hồng (Bungari). Trước khi lên đường từ Hà Nội, người bác ruột của tôi là nhà thơ Nguyễn Giang (1904-1969) đã căn dặn tôi thế này: “Bảo Gia Lợi (cách gọi theo âm Hán Việt nước Bungari) là một đất nước nông dân. Khí hậu dễ chịu hơn các nước Âu châu vì nó nằm ở phía Nam, không đến nỗi rét lắm. Văn hóa có chút ảnh hưởng của Hy Lạp, nhưng ngôn ngữ lại là Slavơ, nó cùng hệ chữ với Nga, Nam Tư…”. Bác nói chuyện với tôi như một người hiểu biết…mà thực tế tôi không hiểu được bao hiêu. Điều duy nhất tôi cảm nhận và có thái độ khoái chí, đó là được biết, tiếng Bungari cùng hệ với tiếng Nga, mà tôi đang được học ở phổ thông. Dù không hiểu được bao nhiêu những điều bác mình nói, nhưng ơn Trời, tôi nhớ những điều bác tôi trò chuyện. Những kỷ niệm đẹp đẽ này của tôi được trở nên rõ nét và không thể quên khi tôi nhận được tin ông qua đời.

Tôi buồn vơ vẩn mất mấy ngày, nhất là việc tôi biết bác mình mất không phải tin từ gia đình, mà rất, rất vô tình, tôi bắt được đài radio Sài Gòn và đúng buổi phát thanh phát cáo phó về việc thi sỹ Nguyễn Giang từ trần! Tôi không tin, vì bác tôi ở Hà Nội, vì sao đài “địch” lại biết và lại nói đến cái chết của ông? Ông có phải là lãnh đạo gì quan trọng của miền Bắc Việt Nam đâu, mà đài “địch” lại quan tâm thế?

Một tháng sau tôi mới chắc chắn rằng, tin bác Nguyễn Giang của tôi mất là đúng, nhờ việc nhận được thư từ gia đình ở Hà Nội. Nhưng phải hàng chục năm sau, tôi mới hiểu vì sao khi bác tôi mất lại được Đài phát thanh Sài Gòn loan tin ?!

Ngày 24. 5. 1968, tôi và cả đoàn học sinh Việt Nam ở thành phố Varna – Bungari được tham gia cuộc diễu hành vô cùng trang trọng và tưng bừng tại quảng trường thành phố. Nhờ có chiều cao, tôi cùng ba người bạn nữa được phân công cầm cờ đi đầu đoàn học sinh Việt Nam. Những người có trách nhiệm giải thích rằng, ngày 24.5 là ngày lễ văn hóa của Bungari, là ngày hai người anh em trai là Kiril và Metodi là những giáo sĩ của Kitô giáo từ thế kỷ thứ IX đã nghĩ ra hệ thống chữ cái Slavơ, thứ chữ mà sau đó các dân tộc ở nước Nga, ở Liên bang Nam Tư, Tiệp Khắc…sử dụng.

Cũng phải mất rất nhiều năm sau đó, khi được đến lại đất nước Hoa Hồng lần thứ hai, khi mà tôi đã “khôn” ra chút chút…Tôi mới biết rằng: Bungari là quốc gia duy nhất trên thế giới có ngày lễ Quốc gia kỷ niệm sự ra đời của chữ viết! Tôi nghĩ nhiều, rất nhiều về điều này, nhất là hôm nay, ngày 4.7.2015 trên trang báo điện tử của VNN có một bài viết với đầu đề rất đáng để suy ngẫm: “Tiếng Việt lọt TOP các ngôn ngữ phổ biến nhất thế giới”.

Nhân sự kiện nho nhỏ này, BBT tannamtu.com xin gửi đến các bạn độc giả của mình một trích đoạn, mà theo chúng tôi rất cần được mọi người quan tâm. Bài viết của tác giả Nguyễn Đức Dân, đăng trên tạp chí Tia sáng từ năm 2012, được trang tin Bảo tàng Nhân học của trường ĐHKHXHNV lưu trữ. Theo thiển nghĩ của chúng tôi, đây là một góc chiếu ngược, liên quan mật thiết đến sự kiện gần đây, dư luận xã hội nói rất nhiều đến việc: vì sao chuyện văng tục và chửi bậy trở nên phổ biến?

truong_langẢnh chụp học sinh và giáo viên ở một ngôi trường làng thời Pháp thuộc (Interrnet)

                                                       *********

Phức tạp hóa,  “quan cách hóa” tiếng Việt và những hệ lụy

(…Trong truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao có tình tiết một anh dân quân đánh vần chưa thạo chữ Quốc ngữ nhưng đã nói thuộc lòng một bài 3 giai đoạn kháng chiến phòng ngự, cầm cự, tổng phản công … ‘dài đến năm trang giấy’ với những cụm từ còn khá xa lạ với ngôn ngữ thời ấy như “đề nghị, yêu cầu, phê bình, cảnh cáo, thực dân, phát xít, phản động, dân chủ với cả tân dân chủ” (trích  Đôi mắt, 1948). Câu chuyện của nhà văn có thể phần nào hư cấu, nhưng đã phản ánh một thực tế là từ cách đây gần 65 năm đã xuất hiện trên cửa miệng người dân bình thường những khái niệm cao xa theo đúng đường lối, theo chỉ thị, nghị quyết, dù có lẽ không phải ai cũng hiểu hết ý nghĩa.

Xu hướng ấy tiếp tục kéo dài sáu bảy thập kỷ tiếp theo, một khoảng thời gian đủ dài để tạo ra hai thế hệ với thói quen ngôn từ nói năng đúng giáo điều dù chưa chắc đã hiểu thấu đáo. Điều này dẫn tới hệ lụy là xã hội  hình thành  thói quen chấp nhận,  tư duy thụ động, không muốn lật lại nghĩa lý của từ ngữ, câu chữ, khái niệm và lập luận khi tiếp nhận văn bản. Vả lại, nếu ai đó có suy nghĩ độc lập, muốn phản biện, muốn bình luận sẽ tạo ra những lời nghịch nhĩ và trở thành “người có vấn đề”.

Hậu quả là người ta lo nói năng an toàn, cầm giấy phát biểu theo những giáo điều, dần dần hình thành thói quen kết luận mà không chú ý tới lý lẽ thuyết phục, khiến nhiều người nghèo đi về ngôn từ và tư duy. Thế nhưng người ta vẫn có nhu cầu thể hiện mình qua ngôn ngữ. Vậy là sinh ra lối nói những câu hùng hồn dài dòng rỗng nghĩa. Người nói cố tỏ ra sang trọng với nhiều từ Hán-Việt dù không hiểu thật thấu đáo. Một thói quen quan cách, sẵn sàng lặp lại những điều đã biết, đã từng nói.

Biến tướng của lối nói dư thừa là lối nói “chuẩn” nhưng không có trích dẫn. Trải qua nhiều cuộc học tập nghị quyết, rèn luyện lập trường quan điểm, nâng cao ý thức chính trị, trong một số người đã hình thành thói quen tư duy thụ động và “nghệ thuật” nói năng an toàn: quan trọng nhất là phát biểu theo đúng quan điểm, đường lối mà không cần trích dẫn trực tiếp xuất xứ, vốn là điều tối kỵ với những người làm khoa học…)

 

Nguyên văn bài viết của tác giả Nguyễn Đức Dân: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&News=4965&CategoryID=41

BBT.Tannamtu.com

Nguyễn Lân Bình

 

================

 

 

 

 

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  
October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Social Network