DUY TÂN

Thưa các quý vị độc giả!

Sau khi Tannamtu.com cho đăng bốn bài của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh viết về tệ nạn tham nhũng và hối lộ trong xã hội Việt Nam từ gần cả 100 năm trước, khi Việt Nam còn đang tồn tại dưới chế độ Quân Chủ Chuyên Chế.

BBT chúng tôi nhận được nhiều ý kiến tâm đắc, đánh giá cao về những hiểu biết sâu rộng của tác giả qua nhãn quan xã hội học của ông.

Có không ít ý kiến của các bạn đọc đã chia sẻ rằng, hiện trạng hôm nay ở đất nước ta về các vấn nạn này đều có xuất xứ từ quá trình lịch sử, tồn tại trong những bối cảnh xã hội thiếu nền tảng giáo dục nhân văn, cộng với hậu quả của tâm lý nông dân, chỉ tính những lợi ích trước mắt và vì kém văn hóa nên coi việc chà đạp lên nhau để thu lợi đã trở thành lối sống quen thuộc trong sinh hoạt hàng ngày.

Tuy nhiên, bốn bài Nguyễn Văn Vĩnh viết và đăng tải trên tờ L’Annam Nuoveau (Nước Nam mới) đều vào năm 1932, lúc đó ông đã 50 tuổi, độ tuổi theo quan niệm chung, là độ tuổi đầy đủ những kiến thức cần thiết về xã hội, nhất là đối với một người làm văn hóa. Vì thế, đặc biệt với bộ óc thông tuệ hơn người, việc Nguyễn Văn Vĩnh có được những kiến thức rộng lớn này cũng là chuyện dễ hiểu.

Để giúp cho những ai quan tâm đến đề tài Nguyễn Văn Vĩnh có cơ hội nhìn nhận về khía cạnh tư tưởng có tính hệ thống ở một người như ông, BBT chúng tôi xin gửi đến các bạn độc giả một bài viết cũng có nội dung về giáo dục xã hội, nhưng được viết từ trước bốn bài viết nói trên đúng 25 năm trước đó, năm 1907 và đăng trên tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở phía Bắc Việt Nam, tờ Đăng Cổ Tùng Báo.

Chúng tôi luôn chắc chắn một quan điểm về con người Nguyễn Văn Vĩnh, đó là: suốt đời vì một nền học vấn cho dân tộc mình, suốt đời vì một nền văn hóa tiến bộ mà vẫn thể hiện đúng bản sắc của người dân An Nam.

BBT tannamtu trân trọng cảm ơn nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn và ông Lại Nguyên Ân đã giúp chúng tôi cùng các độc giả hiểu tường tận đoạn văn dùng chữ Hán của tác giả

Kính mời các quý độc giả tiếp tục theo dõi!

 

Xin cảm ơn!

BBT. Tannamtu.

 

 DUY TÂN

ĐĂNG CỔ TÙNG BÁO số 812 ngày 8.8.1907.


New Picture1

Một ông quân-tử Pháp tên là Helvétius có nói rằng: dùng tiếng sai làm cho một nước ngu dốt.

Điều ấy ngẫm cực là phải. Như nước Nam từ xưa nay miệng nói một đường trí tưởng một ngả, cho nên chữ nghĩa đọc đến không có in vào óc được cho lắm.

Lắm kẻ lúc nói truyện thì cứ dùng những cương-thường, đạo-lý, nhân-tâm, ra từng núi một, như ta nói sôi sôi thịt thịt, không có để trí chút nào vào nghĩa-lý những chữ ấy, cho nên nhàm đi, đến lúc phải cần nói đến chữ ấy thực, thì cái nghĩa nó không nặng lắm nữa, những chữ hay rồi thành ra như mấy tiếng lót, như cái cạp thêu để cạp câu truyện đó mà thôi.

Cũng vì thế cho nên văn hay bây giờ, thực hay cũng không động lòng người nữa, vì bao nhiêu chữ hay, thày đồ nào cầm được bút là viết ngay, bụng có nghĩ đến hay không nghĩ đến mặc lòng.

Người nước Nam được một cái lạ: là cứ được đọc sách ngâm thơ là xướng, hiểu hay không hiểu không cần. Từ người kể truyện Nhị-độ-mai cho đến ông bình-văn, chỉ cốt có dọng mà thôi. Thế mà đọc đi đọc lại hàng răm bẩy mươi lần cũng không biết trán. Đọc quá đến thuộc lòng, nhưng thuộc cũng ví như con yểng, cũng như cái máy thu-thanh, lắp đi lắp lại mãi cho quen miệng, chớ không phải tại nghĩa-lý in vào trí mà thuộc.

Kìa như trong sách cho bao nhiêu là câu hay, mở sách ra trang nào trang ấy là có điều hay cả ; giá thiên-hạ cứ để bụng, lấy làm hay mà nhớ, nhớ rồi theo mà làm, thì nước Nam làm chi đến nỗi thế này.

Sách dậy: “…………..” (chữ Hán) thì cứ biết là: vật có gốc ngọn, việc có sau trước, biết thủa sau trước, thời gắn đạo vậy.

Xem đến thì nghĩa-lý cũng biết, thuộc như cháo, nhưng chỉ biết nghĩa thế thôi, giá thử có suy xét ra, thì cũng còn thấy hay nữa, nhưng ai chịu suy, chỉ cứ học gọi là biết: vật có gốc ngọn, nhưng gốc là thế nào, ngọn là thế nào, sau là thế nào, không suy nghĩ cho hết lý.

Điều đó tôi chắc thế, vì nếu ai cũng vỡ lẽ mà vỡ tất đã theo, thì khi nào lại có để như Âu-châu tìm thấy cách dùng hơi nước, (…) thu điện-khí trước mình.

Người ta dẫu cũng một đạo. Sách dậy cũng cốt có thế. Sự thật có một “…….”(chữ Hán) mà sao người ta khôn hơn mình.

Tại nơi ở, tại phong-thổ, cũng có, nhưng cũng tại cách học của người ta. Kể ra thì cũng lại còn một nhẽ nữa, là vì các đứng thánh hiền minh làm sách dậy dân, như là đưa con từng mớ kim-cương, một trang sách mỗi chữ là một chữ hay, không có độn cho đỡ mà cho khỏi mỏi trí. Sách mình thì mỗi nét một hòn ngọc, nhìn làm quáng mắt, không thấy cái nào là đẹp là hay.

New Picture

Nhưng sao từ xưa nay bao nhiêu người nhìn vào đống ngọc ấy không ai biết nhìn để mà tách ra cho dạch dòi, lấy từng câu (….) diễn ra từng quyển, giải cho người khác hiểu cách dùng câu ấy vào thế sự ? Chỉ vì cái lưỡi. Học cứ biết rằng học. Trông vào đống ngọc cứ tắc lưỡi khen rằng đẹp, nhưng viên nào đẹp thế nào, câu nào hay làm sao, cũng không biết suy biến cho kỹ.

Đến nay kể đến có sách mới của Tầu của Nhật sang cũng vậy.

Cứ ông nào xem hết bộ ẩm-băng; bộ dịch hoàn-trí-lược; vài quyển sử các nước; nói được răm chữ: ái-quần, nhiệt-thành, văn-minh, tự do, bình-đẳng, đồng-bào là tưởng đã đương duy-tân rồi. Suy xét ít. Ông Lương ông Khang nói làm sao, là cứ thế mà nói, không bàn-soạn bẻ-bai gì cả.

Tôi lo không khéo lại bỏ ngâm-nga tứ-thư ngũ-kinh, mà ngâm nga ẩm-băng đó mà thôi. Mà cái sự đổi ấy chắc thiệt. Sách nho (…) là sách dậy, sách bây giời là sách bàn. Ta dành xem sách bàn hay hơn và mở trí khôn hơn sách dậy, nhưng người ta bàn thì mình phải suy, có câu bàn phải cũng có câu phải trái. Câu nào phải thì chịu, câu nào trái phải xét mà bàn lại.

Có sách Tầu, báo Tầu sang đây, thì là những điều hay, nhưng phải biết có nhiều câu hay ở bên Tầu không hay ở nước ta. Mỗi nước mỗi tục. Nguyên cũng hủ như nhau nhưng mỗi nước hủ một cách. Bịnh sốt rét với bịnh đi-tả dùng một thứ thuốc mà chữa thì chết.

Vậy xin các ông có tân-thư đến cũng nên xem, mà bàn bạc cho mỗi ngày một giộng ra, phải lấy việc người mà suy việc mình. Nhưng phải tỏ ra cho thiên-hạ biết rằng: ta cũng là người đây. Thấy điều gì hay biết suy biết xét, chớ đừng người nói sôi thì ừ sôi, người nói thịt thì ừ thịt, cứ thế mà lắp đi lắp lại mãi, nghĩa-lý không hiểu thấu, thì có khác chi cái thằng đi học khôn ở trong truyện trẻ.

Phải biết rằng duy-tân là: xưa làm biếng nay cần mẫn; xưa tin thần ma, nay suy nghĩa-lý; xưa ăn mặc lôi-thôi, lười lĩnh, nay ăn mặc sạch-sẽ gọn-gàng; xưa chanh nhau đùi gà, nay ganh nhau công việc; xưa ao ước nẹt dân, nay ao ước làm đầy-tớ rồi được việc cho đồng-bào; xưa bắt vợ làm trâu, nay trọng đàn-bà hèn yếu; xưa ái quốc trong làng, nay ái quốc ngoài nước; xưa phiện-phò cờ-bạc, nay buôn bán học-hành; thế thì là duy-tân, chớ không phải duy-tân là hót nhẩm hết xó này đến xó kia những tự-do, nghĩa-vụ, lợi-quyền, mà nghề mình vẫn không có; không phải là cứ nói liều nói lĩnh: nay giấy quân, mai cầu cứu mà đổ máu giại ra chẳng ma nào cứu dân ! Làm người muốn ở đời phải khôn, phải xét thế lực mình mới được, xét việc gì phải xét đầu xét đuôi, rồi hẵng nói, chớ đừng có nằm đáy giếng trông lên tưởng giời bằng cái vung; duy-tân không phải là cứ dận xằng dận xịt đổ ra lũ này lại đổ ra bọn kia. Mình tiến cứ việc mà tiến, dậy cứ việc mà dậy. không có ai nghe cũng là tại mình, chớ nhời hay mà phải nhẽ thì ai cũng phải lọt tai.

TÂN-NAM-TỬ.

Ghi chú:

  • Bài viết được thận trọng chép lại nguyên văn từ trang báo.
  • (….) là những chữ bị mất do ở mép của trang báo.
  • Những chữ viết nghiêng có gạch dưới là những chữ ở mép của trang báo chỉ đọc được 1/2 , người chép suy diễn trên cơ sở những chữ cái còn đọc được.

BBT tannamtu.com

Nguyễn Lân Bình.

===================

Ghi chú:

– Câu chữ Hán là “Vật hữu bản mạt, sự hữu chung thủy, tri sở tiên hậu tắc cận đạo hĩ” 物有本末事有终始知所先後則近道矣. Về xuất xứ, câu này trong sách Đại học (một trong Tứ thư của Nho gia)

Lời dịch đại để như bản quốc ngữ, riêng câu “biết thửa sau trước…” dùng chữ thửa là chữ cổ, các bản bạch thoại Trung văn hiện nay dịch đúng nghĩa trong ngữ cảnh của toàn bộ cuốn sách là:

“Vạn vật trong vũ trụ đều có gốc có ngọn, sự vật đều có bắt đầu và kết thúc. Nếu hiểu rõ được trật tự trước sau, gốc ngọn, đầu cuối thì có thể nắm được đạo lý tu kỷ trị nhân mà sách Đại học giảng dạy”.

Nếu người học Hán Nôm muốn đi sâu hơn nữa thì phải hiểu Khổng Tử nói cái gì là bản mạt, chung thủy. Minh đức là bản (gốc), tân dân là mạt (ngọn), tri chỉ (biết chỗ dừng) là thủy (bắt đầu), năng đắc (có thể đạt được) là chung (kết thúc). Bản và thủy là cái có trước (tiên), mạt và chung là cái đi sau (hậu).

Nhưng ở đây chắc tác giả chỉ lấy ý khái quát, không bám sát ngữ cảnh văn bản nên ta có thể hiểu giản dị là nếu biết được trật tự trước sau thì nắm được qui luật của sự vật, thế giới.

– Ba chữ ở trang khác : vô nhị thị 無二是.

Ba chữ này nghĩa như chính tác giả đã giải thích : ý nói chân lý chỉ có một chứ không có hai.

Trần Nho Thìn.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  
October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Social Network