NGUYỄN VĂN VĨNH VỚI CHỐNG ĐÚT LÓT và HỐI LỘ – Bài 4

CHẾ ĐỘ ĐÚT LÓT, HỐI LỘ MUÔN HÌNH VẠN TRẠNG

( La concussion sous ses différentes formes)

Bài 4, L’Annam Nouveau số 113 ngày 28.2.1932.

Các hương chức 1915

Các hương chức 1915

Chúng ta tiếp tục nói đến hoạt động của các tòa án bản xứ. Với cách thức tổ chức mới và các thủ tục tố tụng mới, đặc biệt sính các loại giấy tờ văn bản là cơ sở để các viên lục sự được hưởng lợi, thậm chí bản thân quan tòa cũng mất cả quyền hành. Có những thẩm phán chuyên phụ trách việc lấy cung để luận tội có thể làm tiền không khó khi áp đặt câu chữ, ép người viết biên bản vụ án phải làm theo, hoặc sẽ phải hoàn toàn phụ thuộc vào viên lục sự là một nhân vật mới, được giữ một vai trò đặc biệt quan trọng và là kẻ có sự hiểu biết hơn người về các thủ tục tố tụng. Ở đây, quan tòa chỉ còn việc tuyên án chiểu theo kết luận điều tra, hệ quả của việc lấy cung luận tội từ các viên lục sự là người lập biên bản của vụ việc. Đây là một sự bảo đảm mới chỉ dành cho những công dân hiểu về quyền lợi của mình khi có được kiến thức và sự hiểu biết về pháp luật, nhưng không phù hợp với những bị can là những người dân bình thường trong chúng ta.

Nói chung, họ không có khả năng ngay cả trong việc trình bày cho rõ ràng lời khai của mình nên đành phó mặc cho sự tùy tiện của các viên lục sự, mà đúng ra các vị đó phải giúp can phạm biết khai những gì phù hợp và có lợi cho họ. Một vai trò đầy sự lo lắng với những người thận trọng và rất dễ kiếm tiền đối với một kẻ hay lợi dụng quyền hạn. Sự lợi dụng này có thể chẳng nguy hại gì cho viên lục sự khi có tranh chấp, vì các biên bản chất vấn đều được đôi bên cùng ký và nhờ chữ ký này, họ vô can. Với cách nghĩ thông thường, đây là điều thực sự gây tai tiếng ở một số địa phương khi người ta thấy các viên lục sự ở tòa án còn quan trọng hơn tất cả các quan tỉnh cộng lại. Các quan buộc phải nể trọng hắn ta để có chút thuận lợi khi muốn can thiệp cho kẻ này hay kẻ kia.

Hơn nữa, họ đành phải có những thương lượng với bộ mặt mới này để chứng tỏ sự khôn ngoan vì có được không khí hòa hợp giữa các thế lực cầm quyền.

Ở ta, có hẳn một đội ngũ những kẻ mồi chài, môi giới trong khối quan lại và các viên chức vụ lợi kết hợp với cả các văn phòng luật sư mà đối với người dân quê ngu ngơ của chúng ta họ luôn coi những cơ sở này mang đầy tính bất ngờ. Còn đối với người dân ở Âu châu hay Phi châu, họ đã quen nhìn những luật gia là những người bảo vệ công lý.

Khái niệm về một viên chức được nhận lương để tham vấn cho những người đi kiện, thay mặt họ bảo vệ tốt hơn các quyền lợi của họ trước tòa án, rất khó trở thành nhận thức trong đầu của những người dân quê ở đất nước An Nam này, họ tin rằng, đã là quan tòa, đó phải là những người sáng suốt thì mới được làm quan tòa. Vốn kiến thức của một luật sư cộng với tri thức của một vị quan tòa, mà luật sư lại là người được nhận tiền công thì hình như họ lại là một loại quan tòa được pháp luật thao túng cho việc buôn bán quyền hạn và được quyền gây ảnh hưởng trước các quyết định của tòa án. Nhìn lại, đây là một công việc không thể chấp nhận theo cách quan niệm bị đơn giản hóa quá mức của chúng ta về công lý.

Công lý, về nguyên tắc phải là tuyệt đối không mất tiền để mua. Mọi sự đòi hỏi bằng tiền ở những người đang phải hầu tòa, cả bên nguyên lẫn bên bị, kể cả khi để phục vụ một công việc cần thiết do sáng kiến của một cá nhân quan trọng, đều không thể không gọi đó là sự thu nhập bất hợp pháp. Vì vậy, nhiều người An Nam ta đã bảo rằng: luật sư là những kẻ buôn bán công lý có môn bài. Thực tế này, đã đặt họ vào sự tự lầm lẫn khi tự cho mình như một người lo dàn xếp các sự vụ, và điểm khác duy nhất, là họ có quyền cãi trước tòa án.

Tôi đã ngộ nhận rằng mình có nghĩa vụ phơi bày cái tâm lý đặc biệt này trong tư duy của những ngài luật sư có lương tâm về vai trò cao quý của mình. Sống ở một xã hội có những nhận thức như đã nói, các luật sư nên tâm niệm việc giúp cho người dân hiểu rõ cái giá trị tốt đẹp của nghề luật sư mới phải. Làm được như thế, bởi cũng vì cái ý nghĩa của một nền cộng hòa tốt đẹp. Nhưng than ôi, ý nghĩa của nó đã thường bị làm xấu đi bởi các vị đồng nghiệp thực dụng quá đáng, hình như họ thấy như vậy thích thú hơn việc chứng minh với các khách hàng là người dân An Nam rằng, sự vinh quang là một lối sống quen thuộc.

Đến đây, chúng ta quay lại với các nhân viên chạy việc ở các văn phòng luật sư mà có nhân viên đã biết lôi kéo được số lượng khách hàng đông đến mức gây sự thèm khát cho những văn phòng đắt hàng nhất.

Không phải bao giờ những kẻ có tước vị cao, có môn bài, tự nhận là kẻ chạy việc cũng sẽ có nhiều việc hơn. Có một bộ phận những hạng người này cũng giống như một số nghệ sỹ, nhà kim hoàn, may mặc, thêu thùa…họ nhận được các đơn hàng lớn mà không cần có cửa hàng, cửa hiệu. Chức vị thật sự của họ, chính là các mối quan hệ mà họ biết cách nuôi dưỡng với các nhân vật có chân ở mọi cấp bậc trong xã hội, giúp và cho phép họ can dự không sợ rủi ro với danh nghĩa bè bạn, và đó chính là các khách hàng.

Để lôi kéo đến nhà mình những mối quan hệ béo bở, họ dùng mọi biện pháp để hấp dẫn như: cờ bạc, chè chén, hú hí với các mỹ nhân, thuốc phiện… Hãy nhớ, cờ bạc và thuốc phiện, vừa đem lại tiền bạc, vừa biến các bạn khách thành những kẻ nhờ vả, móc nối được. Nếu không trực tiếp cậy nhờ được uy danh của họ bằng các hành vi cụ thể, thì chỉ riêng sự có mặt của họ tại nhà riêng cũng đã tạo ra được các cuộc móc nối, chạy chọt, đủ để phục vụ cho việc làm tiền. Chỉ riêng việc có mặt các nhân vật quan trọng tại nhà riêng, cũng đủ để dẫn đến một quyết định hành chính, có thể là tư pháp, là cơ sở để những đương sự trong các vụ việc chấp nhận ứng một khoản tiền lớn với hy vọng trường hợp của họ sẽ có được sự quan tâm. Trước thực tế này, xin khuyên các vị có danh tiếng cẩn thận trọng trong việc chọn lựa các mối quan hệ, đừng để bị lợi dụng trong quan hệ bởi sự “hiếu khách” của chủ nhà.

Chính những kẻ danh nghĩa là người chạy việc của các quan lại, viên chức ăn tiền, lại là người dẫn chính các vị đó đến các văn phòng luật sư như những khách hàng. Những kẻ này có nhiều ưu thế, cái lợi lớn là họ sử dụng được mọi quyền hạn nhờ các mối quan hệ ở mọi cấp, họ có thể tìm những con đường nên đi, theo cách hợp pháp hoặc theo kiểu không chính thức.

Trên tỉnh lỵ, còn có những đội quân là những kẻ chạy việc có địa vị và có cả các loại hình công việc không nhất định. Họ thực hiện mọi yêu cầu mà thiên hạ đưa đến, bằng không, họ rất biết tạo ra việc mà đối tượng là các viên chức đã về hưu, thân hào có tiếng ở các vùng, những người cho vay nặng lãi để nộp thuế theo kiểu ứng trước, các chủ quán ăn nhậu nằm chung quanh các cơ quan văn phòng tỉnh… Họ là những kẻ rất sát dân, hiểu biết cuộc sống sinh hoạt đời thường của dân và biết cách để giúp thiên hạ đi tới kết quả. Để biết rõ thành phần các quan trong tỉnh, ai thanh liêm, ai hay ăn hối lộ, chỉ cần thông qua nhóm người này, vì chính họ đã sống dựa vào các quan lại và các quan cũng lại sống nhờ họ. Những kẻ trung gian này, khi bị thất thế, họ bỏ đi nơi khác hoặc kêu ca phàn nàn rằng, dạo này đói quá.

Có những vị quan thanh liêm nhưng bị dân ghét, đơn giản vì người đó càng cố gắng hành xử chu đáo và công bằng, các vị càng đòi hỏi mọi việc phải đầy đủ chứng cứ, sự việc thành rối, đẩy đương sự nóng ruột đi tìm cố vấn để nhờ cậy bằng tiền. Như thế, sự thanh liêm đơn thuần không đủ để trở thành một vị sếp tốt. Cần rất nhiều sự quan tâm chân thành để tránh cho dân sự phiền muộn và những sự sợ hãi không cần thiết trước pháp luật.

Trái lại, có một kiểu tham nhũng tử tế, nó tạo ra kết quả nhất định vì đã nuôi sống được mọi người trong một phạm vi vừa phải và không gây ra ác cảm với dân chúng. Than ôi, tính cách này chỉ có ở một vài vị quan có thế lực, ông ta cư xử vừa phải với dân, đúng mức với cấp trên, cùng chia sẻ mọi lợi ích, không bị quấy nhiễu nhờ có đội ngũ thuộc cấp khôn khéo.

Tôi xin kết thúc ở đây bằng việc lưu ý các vị quan cùng các nhân viên của họ về một nguồn lợi tiền thu khác. Đó là cả ngàn các sáng kiến mới trong quản lý của chính quyền Pháp về những cuộc điều tra xã hội kèm theo những số liệu thống kê về nhiều lĩnh vực như: nông nghiệp, công nghiệp địa phương, nhân công lao động, chăn nuôi gia súc, dân số, các biến động về nhân chủng học… Kết quả điều tra này sẽ là cơ sở cho một sự hiểu biết đầy đủ nhằm đem lại những lợi ích tất yếu đối với việc quản lý xã hội, nhưng nó lại không phù hợp với trình độ kiến thức của những người nông dân chúng ta, kể cả hàng ngũ chánh tổng và các lý trưởng của họ.

Các mẫu kê khai được in sẵn để phát cho các cơ sở chỉ việc điền vào các cột với những ghi chú hình tượng khó hiểu, đồng thời các lý trưởng phải đến mua và sau đó sẽ được địa phương bù lại tiền cho các vị với giá từ 5 đến 20 đồng bạc. Để tránh những nhầm lẫn vì khai sai vào những bản in khá công phu này, họ thường cậy nhờ các viên thư ký trong dinh (cơ quan tỉnh-n/d) làm giúp và các viên thư ký này lại chính là các nhân viên được các quan giao nhiệm vụ tổng hợp, thống kê từ các tờ khai này. Tiền bo (bồi dưỡng-n/d) cho công việc này không nhỏ, hàng trăm đồng bởi lẽ nó được các xã trong một huyện, các huyện trong một phủ dồn vào và đương nhiên đừng nghĩ những nhân viên thư ký đó sẽ được hưởng món lợi bất ngờ này một mình. Thông thường, họ sẽ chia nhau, trừ trường hợp sếp đặc cách khoán riêng cho một viên thư ký nào đó.

Như vậy, nếu không vì định dành ưu đãi cho riêng nhóm thư ký bàn giấy, lợi dụng sự ngu dốt của người dân để bóc lột họ, thì chính quyền cần tổ chức một các hợp lý công tác điều tra này để có được những số liệu thống kê chính xác. Rất nhiều vấn đề, nếu chỉ nhìn trên giấy tờ cảm thấy nó đơn giản, nhưng với các lý trưởng, họ không thể trả lời bởi lẽ cuộc sống và cách làm việc của người dân An Nam hoàn toàn không được tổ chức như sự tưởng tượng của các cơ quan chính quyền nhà nước. Đối với các quan, tưởng như những câu hỏi sau rất bình thường, nhưng khi hỏi người nông dân: rằng họ đã phải mất bao nhiêu ngày công cho việc cày, bừa, tát nước, gặt…cho một vụ lúa? Họ đã thu hoạch được bao nhiêu tạ thóc, ngô, đậu tương, mía và các sản phẩm khác trong một năm? Tất cả những số liệu được các địa phương cung cấp lên, đều có giá trị bằng vàng, nhưng đều sai toét, sai tuyệt đối.

Cần phải có các nhà chuyên môn, làm việc với tinh thần khoa học nhưng phải thật sự hiểu những phương thức làm ăn và đời sống của người dân bản xứ, từ đó mới có thể có được những số liệu tương đối với những sai số chấp nhận được, làm cơ sở cho những nghiên cứu tổng quát, phục vụ cho việc quản lý và tổ chức xã hội thật sự hữu ích.

 

HẾT

 

NGUYỄN VĂN VĨNH

Người dịch: Nguyễn Kỳ, Bùi Tường Trác và Nguyễn Thị Mười.

Hiệu đính kỹ thuật: BBT Tannamtu.com

 

Các quan chức Pháp-Việt

Các quan chức Pháp – Việt

Lời kết cho 4 bài báo.

Sau khi Nguyễn Văn Vĩnh cho đăng các bài viết này trên báo Nước Nam mới, lên án các cách thức làm tiền, bóc lột những người dân nghèo không có kiến thức của một số quan chức và viên chức ở một số khâu tổ chức trong bộ máy chính quyền, ông đã nhận được rất nhiều phản hồi từ dư luận của xã hội đương thời.

Ngày 17.3.1932, trên số báo 118 của tờ L’Annam Nouveau (Nước Nam mới), Nguyễn Văn Vĩnh đã viết một bài phản hồi dư luận trước đề tài này. Trong bài viết của mình, ông chia sẻ những khó khăn với một bộ phận viên chức chính quyền sống và làm việc có lương tâm nghề nghiệp. Ông hiểu sâu sắc những nỗi cực nhọc của cuộc sống hàng ngày đối với mọi tầng lớp trong xã hội, đặc biệt là những người làm nghề luật sư. Ông cũng đánh giá cao một số nội dung cải cách nền hành chính tư pháp của nhà cầm quyền, nhưng theo ông vẫn thiếu tính thực tiễn khi nhìn vào mặt bằng dân trí của đa số người dân, và đó là nguyên nhân sâu xa làm hạn chế kết quả của sự cải cách, đồng thời là kẽ hở cho sự lạm quyền của những viên chức thiếu đạo đức và nhân cách.

Nguyễn Văn Vĩnh đã thẳng thắn bác bỏ một số ý kiến biện hộ của một bộ phận viên chức đã mếch lòng khi đọc loạt bài này với tuyên bố: “…Nếu ông mà làm quan, ông cũng sẽ làm như họ thôi…!”.

Nguyễn Văn Vĩnh đã khẳng định trong bài viết về lý do ông đề cập những vấn nạn này trong xã hội, và việc nêu những thực tế này hoàn toàn không phải để bôi nhọ hay lên án riêng bất cứ một đối tượng cụ thể nào. Ông xác định: “…Đây chỉ là một việc làm cần thiết nếu chúng ta thực lòng muốn nhà cầm quyền nhanh chóng tìm ra được giải pháp hữu hiệu chữa trị một căn bệnh quá trầm kha của xã hội và căn bệnh đó đã hành hạ cả kẻ khai thác và những kẻ bị khai thác đều phải chịu đựng…”.

Riêng chỉ bốn bài viết về hối lộ và tham nhũng của Nguyễn Văn Vĩnh thôi, cũng đã giúp người đọc hiểu rõ vì sao Nhà Cầm quyền kinh hãi ngòi bút của ông đến mức phải mặc cả với ông để ông hãy từ bỏ sự nghiệp của mình với miếng mồi Thượng thư (Bộ Trưởng). Chúng ta càng đọc những gì Nguyễn Văn Vĩnh viết, càng thấm thía và trân trọng những việc ông làm và càng hiểu vì sao “họ” không thích ông!

BBT.Tannamtu.com.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  
October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Social Network