(Bài viết nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20.11)
Dương Xuân Trinh
Cho dù cuộc đời này, không phải ai sinh ra cũng được đi học. Nhưng đã được đi học, chắc chắn không ai không có những kỷ niệm với những người là thầy, cô đã dạy mình. Trong những người thầy của cả cuộc đời học sinh, nhất định trong mỗi chúng ta đều mang theo những kỷ niệm đặc biệt nhất về một người thầy nào đó…Tôi xin được kể lại một mẩu chuyện ngắn về một người thầy đã để lại trong tôi những ấn tượng sâu sắc và có thể nói: sống để bụng, chết mang theo!
Tôi thuê xe ôm, đến thăm một người bạn ở phố Nguyên Hồng. Bỗng khi đi qua một con phố nhỏ của quận Đống Đa, tôi giật mình thấy một phố mang tên: Hoàng Ngọc Phách (1). Ôi ! Con phố này mang tên người thầy dạy của tôi !
Tôi đột ngột thay đổi ý định ban đầu và quyết định dừng lại, xuống xe. Tôi khẽ bảo với người xe ôm:
– Cháu ơi, xin lỗi, cho bác xuống đây nhé !
Dù biết rằng, con phố mang tên người mình gắn bó không có nghĩa là nơi đó, có cái gì đó của con người mà mình liên quan. Song tôi vẫn dừng lại.
Vậy là lần đầu tiên tôi đã đến con phố mang tên người thầy từng dạy mình. Lòng dạ nao nao, ôi ngày xưa, ôi những quá khứ, những kỷ niệm của đời học trò, những cảm xúc từ hơn sáu chục năm rồi làm cho tôi cứ tần ngần và lững thững đi bộ… Tôi cố gắng quan sát, ngó nghiêng cả hai bên dãy phố, tôi tưởng tượng, biết đâu, vô tình gặp được người quen nào đấy… để được khoe thôi, rằng: phố này mang tên người thầy giáo yêu quý của mình.
Những kỷ niệm về thầy Hoàng Ngọc Phách hiện dần, đậm mãi lên dạt dào trong ký ức của tôi. Tôi ngây ngất!
Kỷ niệm cuối cùng đọng lại trong tôi là lần cuối cùng tôi được gặp thầy, lúc đó là mùa Thu (hình như năm ấy là năm 1970), tại cửa hàng sách Ngoại văn ở Hà Nội (thời ấy nói đến ngoại văn, Hà Nội chỉ có một cửa hàng). Nếu tính từ trước khi có cuộc gặp này, cũng có đến chừng 25 năm mới lại được gặp thầy. Tôi vui và mừng lắm, hai tay cứ nắm chặt lấy tay thầy, luống cuống, lắp bắp…và rồi bắt đầu liến thoắng. Tôi dồn dập hỏi thầy: hết sức khỏe của thầy, của cô, đến cuộc sống của các anh chị con của thầy, từ chị Thục, chị Thuần, anh Kim… đến anh Bội. Ngày xưa, chúng tôi hồi đi học, đã quý mến thầy hay cô giáo nào thì gắn bó luôn cả với gia đình người thầy, người cô đó. Thầy nhìn tôi dịu dàng, thân thiện, hoàn toàn chẳng khác gì so với ngày nào khi thầy còn dạy lũ học trò chúng tôi ở trường Thành chung Bắc Ninh(2).
Thời pháp thuộc, bốn tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Yên, Phúc Yên chỉ có một trường Thành chung. Gọi là trường nhưng chỉ có bốn lớp, từ Đệ Nhất đến Đệ Tứ. Thường vào được lớp Đệ Nhất chỉ có 40 người, vì phải qua một kỳ thi tuyển rất gắt gao. Nhưng khi lên đến Đệ Tứ, lớp chỉ còn độ 15 đến 20 người.
Tôi bỗng thấy vinh hạnh đến tận cùng, vì sau một hồi lâu, ngờ ngợ, cuối cùng thầy nhớ ra được tên mình (cho dù, hồi đó, tôi chỉ là một học sinh bình thường ở trong lớp). Thầy bảo: “Chào ông Trinh!”. Tôi hoảng hốt, rên rỷ: ấy chết, xin thầy đừng gọi con là “ông” ạ! Tôi nài nỉ, xin thầy có đến ba lần.
Cả trường tôi chỉ có năm vị là giáo sư (Thời ấy, dạy học ở bậc này đã được gọi là giáo sư rồi). Có một vị là người Pháp, chuyên dạy văn học cho lớp Đệ Tứ và kiêm luôn làm hiệu trưởng. Thầy Hoàng Ngọc Phách là người rất có uy tín trong trường, và trong giáo giới của tỉnh Bắc Ninh. Thầy là người có uy tín cả với làng công chức và các vị nho sỹ trong vùng thời ấy. Nhiều người biết thầy vì thầy còn là tác giả cuốn tiểu thuyết “Tố Tâm”. Đây là một trong những tiểu thuyết hiện đại viết bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên và rất có giá trị trong nền văn học chữ Quốc ngữ ở Việt Nam, vì thế nên hay được người đời nhắc đến và đã được tái bản nhiều lần(3).
Cũng vào giai đoạn lịch sử này, nước Pháp đã đầu hàng Đức ở Châu Âu và đầu hàng Nhật ở Đông Pháp, vì vậy nên chính phủ Pháp tỏ ra khá hoang mang. Họ đã áp dụng một số những chính sách ưu đãi có tính thân thiện đối với các công chức cấp cao, vì vậy các giáo viên giảng dạy của trường đều được xếp vào ngạch hưởng chế độ của người phương Tây (cadre européen), theo cách nói của người Việt thời đó, thường gọi là vào làng Tây. Ba thầy giáo khác của trường chỉ chăm chú vào chuyên môn và công tác dạy học. Nhưng thầy Phách lại khác, thầy luôn tích cực tham gia các hoạt động trong công tác xã hội, thầy chủ động tổ chức hội truyền bá chữ Quốc ngữ, tổ chức các buổi nói chuyện ngoại khóa về văn hóa Á, Âu , nói chuyện về đạo Khổng ở khu Văn miếu Tỉnh và còn cho in cuốn sách “Thời thế với văn chương”.
Thầy Phách dạy chuyên văn học Pháp nhưng thầy luôn khuyến khích chúng tôi nghiền ngẫm, tìm hiểu tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du.
Để thuận lợi trong việc hiểu và tiếp thu văn học Pháp, thầy Phách thường xuyên tham khảo và dẫn chứng cách dịch sách của các vị có danh tiếng trong làng dịch thuật, như Nguyễn Văn Tố, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh. Chính thầy Phách của chúng tôi đã từng bảo chúng tôi rằng: “Nguyễn Văn Vĩnh là dịch giả số một của Việt Nam ta!” Tôi nhớ điều này lắm. Thầy còn tóm tắt và hệ thống lại những dấu mốc quan trọng trong cuộc đời lao động của dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh, thầy thống kê với chúng tôi thế này:
Chỉ trong 10 năm, ông Vĩnh đã dịch được đến 30 tác phẩm, từ chữ Nôm, chữ Hán, chữ Pháp ra chữ Quốc ngữ. Đặc biệt, ông Vĩnh đã dịch Truyện Kiều từ chữ Nôm ra chữ Quốc Ngữ, rồi từ chữ Quốc Ngữ ra tiếng Pháp. Thật hay vì trong bản dịch của mình, ông Vĩnh còn giải thích tất cả các điển tích trong từng câu thơ của Truyện Kiều.
Tôi không thể quên và mãi không quên những lúc nói về Nguyễn Văn Vĩnh, thầy Hoàng Ngọc Phách của chúng tôi vừa nói vừa mỉm cười ra điều khoái chí, hình như thầy cũng thấy sự trung thực đến mức khôi hài của ông Vĩnh khi thầy dẫn chứng việc ông Vĩnh lúc dịch, ở một vài tình huống cá biệt, ông còn ghi chú: “Từ này của tiếng An Nam không có từ tương đương trong tiếng Pháp!”.
Biết ơn thầy, chính thầy, với những dẫn chứng giản dị nhưng sinh động đó đã giúp bọn học sinh chúng tôi, bỗng dưng thấy tự hào về ngôn ngữ mẹ đẻ của dân tộc mình.
Ông Dương Xuân Trinh (người thứ hai từ trái sang phải) cùng những người họ hàng trong buổi xem bộ phim tài liệu về cuộc đời và sự nghiệp của học giả Nguyễn Văn Vĩnh “Mạn đàm về Người Man di hiện đai”- Ảnh chụp tháng 3.2011.
Có lần, khi phân tích bài thơ ngụ ngôn: “Con sư tử và con ruồi” (Le lion et le moucheron) của Jean De La Fontaine do ông Vĩnh dịch, có đoạn tả lúc con ruồi nói: “Mi há tưởng là Vua mà ta sợ ư?!…” Khi nêu câu văn này, thầy Phách đã nói với chúng tôi với âm giọng rất thận trọng: “Chúng ta nên biết, khi dịch, cái đầu của người viết cũng như người dịch đều bị treo trên sợi tóc!!!”.
Ngẫm về chi tiết này, chúng tôi đều ngầm hiểu: con đường của những người cầm bút, những nhà văn đâu có ít chông gai, đâu có ít hiểm nguy?!
Tôi còn nhớ, một lần, khi kết thúc phần giảng về tác giả Victor Hugo, thầy Phách có nói: “Đây là một nhà văn tài ba, xuất sắc vào loại bậc nhất của nước Pháp, ông cũng từng bị đi đầy, nhưng khi ông mất, phần mộ đã được đặt ở tầng hầm của điện Pantheon giữa thủ đô Paris, đây là nơi chôn cất những con người siêu việt, những người có công nhất với nước Pháp. Họ thường là các nhà văn hóa, các nhà tư tưởng, hay các nhà khoa học…”.
Nghe đến đây, bọn chúng tôi thoáng nghĩ và khẽ bảo nhau: bao giờ cho nước mình có điện Pantheon nhỉ?!
Điện Pantheon – Paris
Nói xong đoạn trên, thầy Phách lại kể: “Cách đây gần chục năm rồi, ở Hà Nội diễn ra một đám tang, có thể nói to vào loại nhất từ trước đến nay, đám tang không phải của người quyền cao chức trọng, mà cũng chẳng phải của người giàu có nhất nước. Đám tang của một người còn đang bị đầy ải biệt xứ… Đám tang ông Nguyễn Văn Vĩnh. Các em ạ, hôm đó, dân Hà Nội đã thay mặt nhân dân cả nước tiễn đưa một con người có tài, có đức, một người có cống hiến rất lớn cho nên văn hóa, nền văn minh của dân tộc Việt Nam mình! Hàng chục các vị là những nhà văn hóa lớn ở khắp nơi trong cả nước đã gửi các bài điếu, các câu đối phúng đến để tiễn đưa, vĩnh biệt Nguyễn Văn Vĩnh”.
Chúng tôi bật dậy nhao nhao hỏi: “Thưa thầy, thầy có gửi bài phúng điếu đến đám tang Nguyễn Văn Vĩnh không ạ?”.
Thầy Phách không trả lời, mặt thầy bỗng thấy buồn, một nỗi buồn phảng phất…
Tôi tự nghĩ, đối với rất nhiều lớp học sinh của các trường học trước Cách mạng 1945, hình ảnh thầy Hoàng Ngọc Phách là hình ảnh người thầy giáo đẹp nhất, kính trọng nhất đối với chúng tôi!
Vậy là tôi chẳng còn thời gian để mà đến nhà người bạn ở phố Nguyên Hồng nữa, tôi vẫn đi lững thững trên con phố mang tên người thầy mình yêu quý, con phố nhỏ, không ồn ào, chẳng náo nhiệt. Bao nhiêu kỷ niệm vui buồn thủa học trò, bao nhiêu hình ảnh thân thương của thầy Phách cứ chen lấn trong đầu, trong lòng và trong trái tim tôi… Con phố được nối liền với nhiều tuyến phố khác cũng mang tên các nhà văn thành danh của văn hóa nước nhà. Bỗng nhiên, tôi lại thoáng tưởng tượng đến cung điện Pantheon của nước Pháp và mơ có một ngày, đất nước mình cũng sẽ có một nơi như thế để mỗi khi ai đó trong chúng ta muốn thể hiện lòng tri ân với tiền nhân, thì có chỗ để mình đến mà cúi đầu…
Rời con phố nhỏ, tôi biết ơn sự vô tình này đã gợi nhớ bao nhiêu kỷ niệm cho tôi, làm sống lại cả một thời thanh xuân với những tình cảm trong sáng và sâu đậm của cuộc đời học trò, và đem đến cho tôi sự bình an trong tâm thức để sống tiếp những năm tháng của tuổi già. Tôi suy diễn trong đầu: chắc con phố này hợp với tính cách của thầy tôi- thầy Hoàng Ngọc Phách- có lẽ, thầy tôi nơi chín suối cũng sẽ thấy vừa lòng…!
Vừa bước chân xa dần con phố mang tên Hoàng Ngọc Phách, tôi vừa lẩm nhẩm: “Thầy ơi, xin thầy đừng gọi con là “ông” ạ! Thầy ơi, xin thầy đừng gọi con là “ông” ạ! Thầy ơi, xin thầy đừng gọi con là “ông” ạ!…
Hà Nội, mùa Thu 2013.
Chú thích:
(1) Hoàng Ngọc Phách (1896-1973). Sinh ở Đức Thọ, Hà Tĩnh. Tên húy là Tước, bút hiệu là Song An. Ông tham gia phong trào Cần Vương và ra Hà Nội học ở trường Bưởi. Năm 1919, ông đỗ cả hai bằng là Cao đẳng Tiểu học Pháp và Thành chung. Năm 1922 ông tốt nghiệp Cap đẳng Sư phạm. Ông tham gia giảng dạy tại trường Thành chung Bắc Ninh từ năm 1922 đến ngày Tổng khởi nghĩa. Sau Cách mạng tháng Tám đến năm 1959, Hoàng Ngọc Phách giữ nhiều chức vụ trong ngành giáo dục: Giám đốc học khu Bắc Ninh kiêm Hiệu trưởng trường trung học Hàn Thuyên, Giám đốc giáo dục chiến khu 12, Liên khu 1, Giám đốc Cao đẳng sư phạm Trung ương, Thanh tra học vụ toàn quốc, Hiệu trưởng trường phổ thông Phan Đình Phùng, rồi về ban tu thư Bộ Giáo dục. Năm 1959 ông chuyển sang Viện Văn học làm công tác nghiên cứu cho đến năm 1963 thì nghỉ hưu.
(2) Năm 1935 ông về dạy học ở Bắc Ninh cho đến ngày Tổng khởi nghĩa.
(3) Tinh đến nay, tác phẩm “Tố Tâm” đã được tái bản 24 lần.
===========================