Thưa các quý vị độc giả!
Trong suốt năm 2012, trên các phương tiện thông tin đại chúng đã nêu lên rất nhiều ý kiến của các nhân sỹ Việt Nam, không kể trong hay ngoài nước, bàn về vai trò của người trí thức. Ban biên tập trang thông tin chuyên đề về đề tài học giả Nguyễn Văn Vĩnh – tannamtu.com, hiện đang có cả ngàn bài viết của Nguyễn Văn Vĩnh về tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20. Để đóng góp vào dòng chảy này của xã hội, BBT chúng tôi xin được giới thiệu một trong số hàng trăm bài viết về vai trò của người trí thức Việt Nam được Nguyễn Văn Vĩnh viết bằng Pháp ngữ và đã cho đăng trên tờ báo “L’Annam nouveau – Nước Nam mới” vào tháng 10 năm 1932 tại Hà Nội.
Theo chúng tôi, đây là một bài viết mang đậm tính triết lý, một lĩnh vực không dễ dàng cho bất cứ ai khi đọc và dịch ra tiếng Việt. Bài viết đã được người con rể của học giả Nguyễn Văn Vĩnh là Bùi Tường Trác dịch ra tiếng Việt từ hơn 20 năm trước, nhằm giúp con cháu trong nhà hiểu phần nào tư tưởng tích cực của ông cha. Tuy nhiên, để phù hợp với văn phong đương thời và dễ tiếp thu cho người đọc, BBT đã đề nghị ông Nguyễn Như Phong*, là nhân viên của Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội (L’ESPACE) chuyển ngữ ra tiếng Việt. Chắc chắn bài dịch có thể chưa thỏa mãn hết tính tư tưởng của tác giả, cũng như sự hạn chế nhất định của người dịch đối với trình độ Pháp văn. BBT chúng tôi thành thật mong muốn được các độc giả giỏi Pháp văn góp ý, phê bình, kể cả việc phải hiệu đính bài dịch, mục đích cuối cùng là để nói lên được chính xác nhất tư tưởng cốt lõi của người viết.
BBT chúng tôi xin được đăng nguyên văn bài viết bằng Pháp ngữ, để các độc giả có cơ sở xem xét cụ thể.
Chúng tôi thành thật xin lỗi các vị độc giả về các lỗi hoặc những sai sót về ngôn từ cũng như ý tưởng của tác giả nếu có trong bài dịch, và sẽ rất biết ơn khi nhận được sự chỉ dẫn của các quý vị độc giả ở mọi nơi.
Trân trọng!
* Ông Nguyễn Như Phong sinh năm 1958. Tốt nghiệp khoa Pháp, trường Đại học Sư phạm ngoại ngữ Hà Nội năm 1980. Từ năm 1981 đến năm 1983 là chuyên gia ngôn ngữ tại Cămphuchia. Từ 1985 đến 1995 là Thư ký đại sứ Bungari tại Hà Nội. Từ 1995 đến 2011 là nhân viên của Tòa Đại sứ Cộng hòa Pháp tại Hà Nội. Từ 2012 đến nay làm việc tại Trung tâm văn hóa Pháp ( L’ESPACE) ở Hà Nội.
GIỚI TINH HOA AN-NAM
(Báo L’Annam nouveau-Nước Nam mới, số 178,179 và 180, ra ngày 13, 16 và 20 tháng 10 năm 1932)
Dù không phải lúc nào cũng được định nghĩa chính xác, nhưng mỗi xã hội luôn công nhận một lớp người thuộc hàng đẳng cấp, được cấu thành một cách mơ hồ từ những nhân vật nổi lên trong dân chúng đông đảo, nhờ ở, hoặc các phẩm chất trí tuệ đã được xác nhận danh chính bởi các chức vị hay mặc nhiên được công nhận, hoặc chỉ đơn giản do vị trí người đó nắm giữ trong xã hội với lập luận là để đạt tới địa vị xã hội đó, đòi hỏi người ta phải có một trí tuệ nổi trội.
Trong giới tinh hoa chính thức của bất cứ xã hội nào cũng tồn tại những cá nhân mà nếu tách riêng ra, có thể còn thấp kém hơn giới trí thức trung bình. Về đại thể, tầng lớp này được coi như sở hữu đa số những năng lực tinh thần và tri thức đã tạo ra uy quyền trên các lĩnh vực chính trị, văn học và nghệ thuật. Bên cạnh giới tinh hoa chính thức được hình thành nên như vậy, tầng lớp mà các quyết định có thể được áp đặt lên đám đông và thông qua đó, áp đặt lên cả chính quyền của các chính phủ dân chủ, giới quần chúng thông thạo luôn biết tạo nên cho riêng mình một tầng lớp ưu tú khác, hoàn toàn theo quan niệm của họ, về các lĩnh vực tinh thần khác nhau (văn học, khoa học, nghệ thuật, kỹ thuật). Đối với họ, chỉ những người này mới có uy quyền chứ không phải các tác nhân khác. Hai khái niệm về giới tinh hoa đó, là rất rõ rệt, ngay cả trong một xã hội có nền văn minh tiên tiến như nước Pháp. Nhà nước và quần chúng hiểu biết đã tìm, theo cách riêng của mình, để đưa ra một hình thái cụ thể cho quan niệm của họ về tầng lớp tinh túy này, ít nhất là về các lĩnh vực văn học và nghệ thuật. Chính bởi vậy mà bên cạnh Học viện Pháp, đại diện cho tầng lớp ưu tú Pháp, đã hình thành nên một chuỗi các viện hàn lâm, các tổ chức độc lập, các trường học chuyên biệt, nhằm mục đích đại diện cho một mặt nào đó của giới tinh hoa này. Quần chúng, những người bị dẫn dắt bởi những cách đánh giá rất khác nhau về chân giá trị, vẫn là chủ thể khi bộc lộ các khuynh hướng khác để rồi cuối cùng, các khuynh hướng này vẫn quay lại phục tùng sự phê phán nghiêm khắc của những người thực sự hiểu biết.
Trong một xã hội được sắp xếp như vậy, quyền lực, trên thực tế, cuối cùng vẫn thuộc về các đánh giá về năng lực. Dù trong thời điểm có những hỗn loạn về tư tưởng như châu Âu đang trải qua, lớp người ưu tú vẫn tồn tại, ưu tú thực sự trong số các tầng lớp ưu tú thực thụ để khi cần sẽ đưa ra các quyết định lớn tác động đến tương lai nhân loại.
Theo trình tự tư duy như vậy, liệu chúng ta có thể có một tầng lớp tinh hoa không và ai sẽ đại diện cho tầng lớp này?
Ngày trước, chúng ta có các nhà nho và quan lại được đào tạo tại các nhà trường theo khổng giáo. Văn chương, trong mọi thời đại và tại mọi quốc gia trên thế giới, giữ chức năng thể hiện tư duy của con người. Nhà nho, theo đúng nghĩa là người thầy tối cao về khoa học và nghệ thuật, có nghĩa là tất cả, bởi mọi sự phải được phát triển trên nền tảng của sự chính xác, điều tốt và cái đẹp. Trước đây, chúng ta đã từng có cả môn đạo đức học và môn thẩm mỹ học.
Sự vượt trội áp đảo của người Âu về vật chất đã làm cho cái mớ kiến thức già cỗi đó suy yếu và buộc nó thoái lui.
Kể từ đó, trên thực tế chỉ tồn tại những gì được coi là giá trị khi nó hữu ích cho việc áp dụng những kiến thức mới. Cũng từ đó dần hình thành nên một lớp người thượng lưu mới, tạo nên từ đủ mọi thành phần biết cúi gập người phục tùng trước các đòi hỏi mới, phục vụ các ông chủ mới và áp dụng các phương pháp mà họ hiểu biết ít nhiều vào các lĩnh vực hoạt động của địa bàn nơi mình tồn tại.
Giới tinh hoa truyền thống không còn tồn tại, nhóm này biến mất cùng với nền văn hóa truyền thống, bị nền giáo dục đại chúng tống khứ. Đó cũng là điều mà nhà cầm quyền Pháp không nhận thấy hoặc giả đò như không thấy khi họ công khai truyền bá các tư tưởng của mình, về một khía cạnh nào đó, cho lớp người cũ, những người mà họ gọi là học giả, thân hào hay quan lại, cho những sản phẩm của nền giáo dục của họ, lớp người trẻ tuổi, nói tiếng Pháp và biết cách thể hiện cái tôi của họ theo kiểu Pháp, hiểu theo khía cạnh tiêu cực là học đòi phong thái ngoại lai, chối bỏ nguồn gốc giống nòi.
Trong mỗi chúng ta, truyền thống vẫn vẹn nguyên, bám rễ trong đời sống gia đình, trong đời sống xã hội, trong nếp sống, và trong các khát vọng. Nhưng tính truyền thống ấy đã không còn được vun đắp một cách thuần túy. Nhà cầm quyền Pháp, trong khi ra sức ca ngợi điều này đến mức đôi khi gây ra các ngộ nhận, đã không hề đếm xỉa đến tính truyền thống trong các chương trình giáo dục, hoặc chí ít, ở một mức độ nào đó, họ đề cập đến tính truyền thống chỉ để cho nền giáo dục có dáng vẻ mang tính bản địa nhưng để phục vụ các chính sách thuộc địa. Họ đề cập đến đặc tính này một cách vô thức và không hề tham khảo ý kiến của một cơ quan chức năng nào. Cùng với các môn học khác, họ đưa vào giảng dạy những bài học xa lạ với chính họ và chúng ta, được trình bày một cách ngây thơ, đôi khi kỳ quặc, và lũ học sinh phổ thông tiếp nhận nó một cách vui vẻ, dường như chấp nhận một kiểu hy sinh thời gian và sự tập trung để dành cho việc thực hiện chương trình chính khóa. Người An-nam đồng lòng tuyên bố, toàn bộ học phần bản xứ của chương trình học là vô ích. Chúng ta buộc phải hy vọng rằng chính phủ Pháp đồng ý đưa vào giảng dạy một chương trình thuần Pháp, để khỏi phải chịu cảnh con cháu chúng ta lải nhải: “Tổ tiên chúng ta là người Gô-loa!”
Tất cả điều đó, chúng ta phải thú nhận, không nhắm đến mục đích bảo tồn nền văn hóa truyền thống cho đất nước, cũng như không nhằm tạo nên một tầng lớp tinh hoa đại diện cho nền văn hóa này, tầng lớp khả dĩ có thể đem lại cho chính phủ một sự hợp tác thuần An-nam, dưới dạng các ý tưởng, các phương pháp, các quan điểm truyền thống chứ không phải sự hợp tác của các cá nhân mà họ đã đào tạo nên, những người mà, nói một cách tự nhiên, được dạy dỗ để trở thành những người trợ giúp đơn thuần, những người điều hành một doanh nghiệp mới, mà bên cạnh đó, tất cả các hình thức hoạt động truyền thống khác đều không có ý nghĩa.
Như vậy, nếu tồn tại một tinh thần yêu nước An-nam thực thụ, tinh thần này phải được chăm lo đến việc khôi phục các giá trị nội tại của nền tảng văn hóa dân tộc xưa, một mặt nhằm đối chọi lại với sự sùng bái của các tầng lớp trên của xã hội ta đối với nền văn hóa vay mượn, coi nó như phương tiện chỉ đơn giản để đạt mục đích; mặt khác, để đem lại phần đóng góp thực sự hiệu quả, song song với tiến trình Âu hóa, đem lại lợi ích thiết thực ngay trong lòng châu Á, cuối cùng, nhằm tồn tại với vị thế một thực thể của một quốc gia, một dân tộc và để được hưởng thụ các thành quả của sự nghiệp cách tân khi sự nghiệp này đến kỳ gặt hái. Bởi nếu không, tại sao phải thay đổi? Sự đồng hóa thuần túy và đơn giản là lời giải thích duy nhất cho công cuộc xâm lăng của châu Âu.
Tóm lại, luôn tồn tại các nhóm tinh hoa trong mỗi lĩnh vực. Khi người ta nói ngắn gọn chữ tinh hoa, chúng ta hiểu là những gì vượt lên trên số đông, về cảm quan, về kiến thức, về độ lịch lãm và do đó, về cả văn hóa chung, những người được giáo dục kỹ càng. Tất cả những phẩm chất mà, nếu đặt trong một thời kỳ phồn thịnh và sự hòa hợp của một xã hội, sẽ đi đôi với vinh hoa, phú quý do chính nhà nước hoặc những người đứng đầu có khả năng đánh giá con người và giá trị của họ, ban tặng.
Trong những giai đoạn suy thoái, thường xảy ra việc các vị đại diện cho nhà nước hoặc người đứng đầu quốc gia thực thi một cách yếu kém trách nhiệm của họ trong việc ban phát vinh hoa và bổng lộc. Cũng có thể những người này căn cứ trên các tiêu chí khác mà không thèm xem xét người được ban tặng có xứng đáng hay không. Kể từ đó, tầng lớp tinh hoa chính thức lại bao gồm những kẻ kiếm được nhiều tiền hoặc tranh thủ được các cơ hội lớn mà không cần biết vai trò thật của mình cùng các phương kế để họ giành được vị trí hiện tại. Họ cũng chẳng cần đếm xỉa đến danh dự của chính cá nhân con người. Những người hiểu biết và có bản sắc thì bị họ quy kết là những người đã tự ý trao cho mình quyền phán xét, đặc biệt trong những lĩnh vực vượt lên trên khả năng nhận thức của họ. Họ là những kẻ mà dù là tối thiểu cũng không hiểu biết chút gì về những lĩnh vực mà họ đã áp đặt quyền quyết định của mình.
Ở bộ phận dân chúng có sức sống mãnh liệt, những người có tư tưởng lớn đã phản kháng một cách mạnh mẽ. Với khuynh hướng này họ thường giành được cho mình những bộ phận quần chúng biết chia sẻ và cảm thông. Tình hình không được như vậy đối với bộ phận dân chúng nhận thức hạn chế, nơi mà tri thức và bản lĩnh con người hoàn toàn bị biến mất hoặc bị che lấp bởi một số cá nhân muốn giữ lại lối sống cho riêng mình. Họ né tránh các cám dỗ của cuộc sống, họ tự tách mình ra, hoặc thu mình lại để bầu bạn với “gió mát trăng thanh và sự đơn độc”. Ngày xưa ở châu Á, các vị hoàng đế nổi tiếng đã từng làm rung động cả thế giới, vì đã biết cách tìm ra những hiền nhân kín tiếng, giao cho họ việc tổ chức lại đất nước tại các vương quốc họ xâm chiếm được, hoặc cách tái thiết các quốc gia suy vong. Tên tuổi của họ được truyền đến tận thế hệ chúng ta với ánh hào quang thật sự rực rỡ. Nhưng lại có bao nhiêu tên tuổi khác vĩnh viễn biến mất, những người mà sự vĩ đại sánh ngang với những nhân vật đã từng đại diện cho những phẩm chất cao thượng!
Tình trạng diễn ra trên đất nước An-nam đáng thương có thể nói cũng tương tự, một nơi mà con người được hưởng lợi bởi sự sung túc bất ngờ về vật chất, nhưng lại thoái hóa bởi chính nhu cầu phải thích ứng với tình hình quá mới lạ so với quan niệm truyền thống đã có từ hàng nghìn năm qua. Đã muốn thích ứng thì phải cơ hội và phải từ bỏ một cách tự nguyện những gì đã từng được xem như lớn lao và đẹp đẽ, để có thể chấp nhận các tiêu chí mới của cuộc sống.
Lớp thượng lưu mới này được cấu thành bởi các thế lực đương thời, bao gồm những kẻ ban phát và có quyền ban phát một chút vật chất, một chút sự bình yên hoặc một chút vận may cho những người dân khốn khổ, nghèo đói và những kẻ luôn sống cơ hội, trục lợi không cần biết đến ngày mai.
Từ những nhân vật khôn ngoan có tiếng nói, các nhà giáo cho đến các cai thầu mới giầu lên, những người vốn có sẵn việc làm để ban phát, thậm chí các gái giang hồ có nhiều quan hệ để có thể trục lợi, đều có thể thực hiện hoặc dàn xếp các phi vụ kiếm tiền! Cái thế giới nhỏ này đã câu kết với nhau, để tạo nên cái gọi là xã hội thượng lưu An-nam, thực chất là để dựa dẫm lẫn nhau. Thật là khó khăn cho những ai có ý định đặt cho cái xã hội này các quy định nghiêm khắc, nhằm ngăn chặn những cái xấu.
Họ cũng đã dành một chỗ đứng cho giới tri thức và những gương mặt mang bản sắc truyền thống nhưng với điều kiện, các trí thức đó và những gương mặt này phải phục vụ cho lợi ích của các thế lực đương thời, phải phục tùng các bối cảnh chính trị khác nhau, và phải chấp nhận sự nhượng bộ trước những đòi hỏi vô lối của họ.
Nếu vẫn còn tồn tại ở đâu đó một vài gia đình theo lễ giáo cũ đã bị bần cùng hóa hoặc gia đình tư sản cũ vẫn giữ các tập tục khắt khe, những người tuy chối bỏ sự đấu tranh, nhưng lại rất kiên quyết gắn bó với một số các nét truyền thống, chính quyền để mặc họ hấp hối trong khi vẫn tỏ vẻ thương xót những kẻ đã tự làm khó mình bởi sự ngây ngô, dại dột. Họ còn cố chỉ ra cho các đối tượng này thấy những cơ hội mới trong tiến bộ xã hội. Chí ít, những gia đình này họ đã không tự đánh mất phẩm giá bằng việc chấp nhận một cách vội vàng, đôi khi vô liêm sỉ như một số kẻ khác, nỗi hổ thẹn và sự hèn hạ, khi phải đổi lấy một chút vật chất và cuộc sống sung túc trong cái thế giới rất xa lạ với chính họ.
Không lẽ chúng ta chẳng còn cách nào để cứu vãn lấy một vài những nét tryền thống tốt đẹp đã từng tạo nên vẻ đẹp cho cuộc sống trước đây của chính mình, những nét truyền thống mà nhờ nó đã sản sinh ra chủ nghĩa dân tộc kiểu An-nam ?! Xin đừng quên một điều hiển nhiên là những người không thể hòa nhập với cuộc sống mới – và những người này chiếm số đông – lại là những kẻ luôn gắn bó với một kiểu sống đặc trưng của người An-nam, nơi nuôi dưỡng những tình cảm dân tộc trong sáng nhất. Nó phảng phất sự cam chịu ẩn chứa bên trong sự kiên định này, nhưng cũng mang cả ý chí ở một nhóm người. Thật có lý khi lập luận rằng, đa phần người dân An-nam không thể chấp nhận sống một cuộc sống méo mó mà họ tạo ra cho chúng ta. Khi mọi người nhận ra rằng không thể có sự phù hoa hay tiện nghi sẽ được chia đều cho tất cả mọi người, thì quần chúng phải nhận thức được rằng họ cần phải tiếp tục được sống như trước đây. Thật là bất hạnh cho cả cộng đồng khi người dân lại khát khao cái cuộc sống chỉ dành cho một bộ phận thiểu số. Như một bầy ong đổ xô lao vào hũ mật, nếu quần chúng không nhận thức được điều đó và chỉ đơn giản chấp nhận số phận mà không chịu suy nghĩ thì cần phải làm cho họ sáng suốt hơn, nếu không, sẽ là hành trình của cả một dân tộc lao xuống vực thẳm với đôi mắt nhắm nghiền.
Để dẫn dắt câu chuyện đến chủ đề về người An-nam, trong khi vẫn là người An-nam thuần túy, họ vẫn có thể nuôi những hoài bão về cuộc sống, về hạnh phúc, về sự cao quý, về sự vĩ đại mà họ vốn có. Họ cũng cần có một tầng lớp người tinh tú với các giá trị đặc trưng và không giống với các giá trị được sản sinh từ những sự kiện trong xã hội. Song song với các hoạt động nhằm phổ biến các tiến bộ về vật chất của sự nghiệp cách tân, cần phải có một trào lưu về bảo tồn ở ngay tại các trung tâm lớn của chúng ta.
Các hiền nhân, nếu vẫn còn những người này trong số chúng ta, cần phải định hướng cho trào lưu này bằng các hoạt động không mệt mỏi, bằng sự kiên cường thông qua các hình thức giáo dục và văn hóa phù hợp. Rất may chúng ta cũng nhìn thấy rõ khả năng hình thành phong trào này thông qua sự phá sản của nền giáo dục hiện nay, khi nhìn việc con cháu chúng ta, ngay của chính những người được chế độ ưu ái, cũng đã không thể tìm được một chỗ học trong các trường công. Rồi ngay cả các giáo viên phải chấp nhận đứng ra phục vụ nền giáo dục này cũng chỉ được trả mức lương bèo bọt không tương xứng với số học sinh ngày càng tăng lên.
Chúng ta đành vui lòng chấp nhận sự vô trách nhiệm này vì nó chỉ càng làm chúng ta tin tưởng rằng người An-nam cần thiết lập một nền giáo dục cho riêng mình. Khi không còn phải tìm lối thoát nào khác, người dân sẽ hướng đến suy nghĩ thuần túy coi giáo dục như một mục đích tự thân chứ không đơn thuần là phương tiện để kiếm một chỗ đứng trong công sở.
(Hết phần 1. Xem tiếp phần 2 vào ngày mai, thứ Ba, ngày 5/2/2013)
NGUYỄN VĂN VĨNH
Người dịch: Nguyễn Như Phong
Hiệu đính kỹ thuật: BBT tannamtu.com
L’ELITE ANNAMITE
Sans la définir toujours, chaque société se reconnait une élite vaguement composée de toutes les personnalités qui émergent de la grande masse, soit par des qualités intellectuelles officiellement consacrées par des titres ou tacitement reconnues, soit simplement par la situation qu’elles occupent dans la société ; l’acquisition de cette situation suppose une intelligence supérieure.
L’élite officielle de n’importe quelle société comprend des individus qui, pris isolément, peuvent être au-dessous des intelligences moyennes. Dans l’ensemble, elle est censée comporter une majorité de compétences morales et intellectuelles, qui fait autorité en matière politique, artistique et littéraire. A côté de l’élite officielle ainsi formée, dont les décisions s’imposent à la foule et par conséquent aux pouvoirs dans les gouvernements démocrates, le public connaisseur entend toujours créer une élite de sa conception dans les domaines intellectuelles, (lettres, sciences, arts et technicités) et dont l’autorité compte pour lui à l’exclusion de tout autre. Ces deux notions d’une élite sont manifestes, même dans les pays de haute civilisation, comme la France. L’état et le public connaisseur cherchent, chacun de son côté, à donner une forme tangible à leurs conceptions respectives de l’élite, du moins dans le domaine littéraire et artistique. C’est ainsi qu’à côté de l’Institut de France qui représente l’élite française par excellence, il s’est crée tout une foule d’académies, de groupements indépendants, d’écoles particulières, qui tous prétendent représenter l’élite dans un certain sens. Le public, si diversement initié à la juste appréciation des valeurs, reste maître de marquer ses tendances qui sont, à leur tour, soumises à la sévère critique des vrais connaisseurs. Dans une société ainsi organisée, l’autorité reste, en fin de compte, au jugement des compétences et, en dépit du désarroi des moments psychologiques tels que sont que l’Europe traverse actuellement, l’élite subsiste, la vraie parmi les vraies, dès qu’il s’agit de prendre les grandes décisions intéressant l’avenir de l’humanité.
Dans cet ordre d’idées, avons-nous une élite et par qui elle est représentée?
Jadis, nous avions nos lettrés et nos mandarins formés à l’école confucéenne. Le rôle des lettrés, en tout temps et dans tous les pays du monde, étant de traduire les jugements humains, les lettrés étaient à juste titre les maîtres suprêmes en science et en art, c’est-à-dire en tout, car tout doit progresser dans le sens du vrai, du bien et du beau. Nous avions notre éthique et notre esthétique.
La supériorité matérielle écrasante de l’Européen est venue mettre tout ce vieux savoir en défaillance et l’obliger à abdiquer.
Dès lors, il n’y a pratiquement des valeurs que celles qui sont utilisables pour l’application du nouveau savoir. Et il s’est formé peu à peu une élite nouvelle, faite de tous les éléments qui ont su se plier aux nouvelles nécessités, servir les nombreux maîtres et appliquer leurs méthodes, plus ou moins comprises, dans les divers domaines de l’activité locale.
L’élite traditionnelle n’existe plus ; elle a disparu avec la culture traditionnelle bannie de l’enseignement public. Et c’est ce que les gouvernants français ignorent, ou affectent d’ignorer quand ils donnent ostensiblement leur préférence, à certains points de vue, aux anciens, à ceux qu’ils dénomment les lettrés, les notables ou les mandarins, les jeunes, parlant français et sachant extérioriser leur être à la manière française, c’est-à-dire prenant ces attitudes empruntées qui dénoncent le fond atavique, pris en mauvaise part.
Pour nous, la tradition subsiste, tenace, et dans la vie de famille, et dans la vie de société, et dans le tempérament et dans les aspirations. Mais cette tradition a cessé d’être cultivée tout simplement. Les gouvernants français, tout en la vantant, jusqu’à la surestimer quelquefois, n’en tiennent aucun compte dans les programmes d’enseignement, ou du moins ils en tiennent compte dans une certaine mesure, pour donner à l’enseignement un caractère local soumis en politique coloniale ; et en tiennent compte sans la connaitre et sans consulter aucune autorité en la matière. Ils introduisent ainsi, parmi les matières d’enseignement, des éléments inconnus d’eux et de nous, présentés sous une forme naïve souvent baroque, que la jeunesse scolaire encaisse avec le sourire, comme pour consentir un sacrifice de temps et d’attention à la réalisation du programme officiel. Les Annamites sont unanimes à déclarer que toute la partie indigène du programme est inutile. Et nous sommes amener à souhaiter que le gouvernement français se contente de nous dispenser un enseignement purement français, quitte à entendre nos enfants dire « nos ancêtres, les Gaulois ! »
Tout cela, avouons le, n’est pas fait pour conserver au pays sa culture traditionnelle et à former une élite de cette culture pouvant apporter au Gouvernement cette collaboration vraiment annamite, qui sont celles des idées, des méthodes, des conceptions traditionnelles et non pas celle des individus qu’on a formés et qui, spontanément se sont formés pour être les simples auxiliaires, les exécutants d’une entreprise nouvelle, à côté de laquelle toutes les autres formes d’activité traditionnelle ne comptent plus.
S’il y a donc un vrai patriotisme annamite, il doit s’attacher à revaloriser le vieux fond de culture nationale, d’une part pour s’opposer à l’engouement assez humain de toutes les classes supérieures de notre société pour la culture d’emprunt, considérée simplement comme un moyen d’arriver ; d’autre part, pour faire, à l’œuvre de transformation européenne, un rapport réellement efficient, pouvant travailler avec fruit dans le milieu asiatique, enfin pour subsister en temps qu’entité nationale et ethnique, pour bénéficier des résultats de cette œuvre de transformation quand elle sera en mesure de donner son plein rendement. Car, sinon, pourquoi cette transformation ? L’assimilation pure et simple serait la seule justification de la conquête européenne.
De fait, il y a une élite dans chaque domaine et quand on dit élite tout court, on entend plus spécialement le dessus du panier en matière de bon goût, de savoir, d’élégance et par conséquent de culture générale et d’éducation raffinée, toutes choses qui, en temps de prospérité et d’harmonie sociale, vont de pair avec les honneurs et les richesses, dispensés par l’Etat ou le souverain censé connaisseur en hommes et en valeurs.
Dans les temps de décadence, il arrive que ceux qui représentent l’Etat ou le souverain, exercent mal leur pouvoir dispensateur des richesses et des honneurs, ou bien que ceux-ci s’acquièrent autrement que par le mérite. L’élite officielle se compose dès lors de tous ceux qui sont parvenus à la fortune et aux grandes situations sans tenir compte de leur origine, des moyens qu’ils avaient employés pour y arriver, ni de leur valeur individuelle. Et les gens de goût et de savoir sont condamnés à voir s’ériger en arbitre, dans les domaines les plus élevés, des gens qui, pour le moins, n’entendent absolument rien aux choses où ils imposent leurs décisions.
Chez les peuples de grande vitalité, les esprits supérieurs réagissent énergiquement contre cette prétention et parviennent souvent à avoir pour eux la partie éclairée de la masse. Il n’en est pas ainsi chez les peuples faibles, où alors le vrai savoir et le bon goût se perdent ou s’éclipsent totalement, pour rester l’apanage, peu enviable socialement, de quelques individus isolés, réduits à partager avec « le vent frais et la lune brillante des grandes solitudes », le plaisir divin de voir juste. Dans l’Asie antique, les grands souverains qui avaient remué le monde, ont su découvrir quelques-uns de ces grands sages dans leur retraite profonde pour leur confier l’organisation des empires conquis ou la régénération des sociétés en décadence. Leurs noms sont parvenus jusqu’à nos auréolés d’une gloire prestigieuse. Mais combien d’autres sont à jamais perdus pour l’humanité dont la grandeur est faite aussi de la valeur des hommes représentatifs de ses belles qualités.
Tel est peut-être le cas de ce pauvre pays d’Annam, avantagé de bien-être matériel inattendu, mais abâtardi par ce besoin d’adaptation à un état de choses trop nouveau pour ses conceptions millénaires. Qui dit adaptation dit opportunisme et renonciation volontaire à tout ce qui fut grand et beau, pour adopter de nouveaux critères.
Son élite se compose de ces puissances du jour, de tous ceux qui dispensent ou peuvent dispenser quelque bien, quelque sécurité ou quelque chance de sécurité à ce pauvre monde de nécessiteux et de profiteurs sans lendemain. Depuis les Excellences écoutées des maîtres, jusqu’aux tâcherons enrichis qui ont du travail à distribuer, ou encore les demi-mondaines aux relations profitables, pouvant faire ou ménager des interventions utiles : Tout ce monde pactise d’ailleurs ensemble pour former ce qu’on appelle la haute société annamite et se prêter un mutuel appui. Et sus aux gens difficiles ! à ceux qui prétendent imposer à la société quelque discipline gênante pour les compromissions nécessaires !
On fait volontiers une place au savoir et au bon goût traditionnel, à condition que le savoir et le bon goût se mettent au service des puissances du jour avec toute la complaisance que comportent les circonstances, toutes les concessions aux exigences les plus contradictoires.
S’il subsiste, par ci par là quelques familles de vieux lettrés appauvris ou d’anciens bourgeois aux mœurs sévères, ayant renoncé à la lutte, mais persévèrent dans certaines traditions, on les laisse agoniser en les montrant du doigt avec la commisération due à ceux qui se laissent mourir par ignorance des nouvelles conditions du succès. A moins qu’elles ne se discréditent elles-mêmes, en acceptant avec plus d’empressement et quelquefois avec plus de cynisme que les autres, les hontes et les vilenies qui sont la rançon ordinaire d’un peu de vie et d’aisance dans ce monde qu’on ne connait pas.
Est-ce à dire qu’il n’y ait plus rien à faire pour sauver un peu de ces bonnes traditions qui faisaient la beauté de notre vie passée et qui sont la raison d’être d’un nationalisme annamite ? Car, il ne faut pas oublier cette lapalissade que tous ceux qui ne s’assimilent pas la vie nouvelle –et ils sont la majorité- persévèrent dans une forme de vie spécifiquement annamite et nourrissent des sentiments nationalistes les plus purs. Il y a de la résignation dans cette persévérance, mais il y a aussi de la volonté chez certains. Il y a ce juste raisonnement que tous les annamites ne peuvent pas se mettre à vivre la vie transformée qui nous est faite. Dès l’instant qu’on sait qu’il n’y a pas le luxe ou le confort pour tout le monde, il faut bien que la masse se fasse à cette idée qu’elle doit continuer l’existence de toujours, et que ce serait un grand malheur public quand tout un peuple aspire à une vie qui n’est possible qu’à une minorité. Cette ruée de tout l’essaim vers un peu de miel, si la masse inconsciente qui n’obéit qu’à son instinct, ne la voit et ne la raisonne pas, il faut qu’elle saute aux yeux des plus éclairés. Sinon, c’est la marche de tout un peuple vers l’abime, les yeux fermés.
Il faut pour ramener notre argumentation au sujet de cette causerie, que les Annamites, tout en restant Annamites, aient quand même un idéal de vie, de bonheur, de beauté, de noblesse, de grandeur qui soit bien à eux. Il faut qu’ils aient leur élite de valeurs spécifiques qui soit autre chose que les valeurs d’adaptation que les événements ont produites. Il faut que parallèlement à l’action assimilatrice des avantages matériels du modernisme, il se crée un courant compensateur de conservation dans nos propres milieux.
Il appartient aux sages, s’il en reste encore parmi nous, de déterminer ce courant par une action incessante, par la persévérance dans une formule d’éducation, de culture appropriée. Nous voyons heureusement la possibilité de ce mouvement dans la faillite même du système d’enseignement actuel, dans le fait que nos propres enfants à nous, qui sommes déjà parmi les privilégiés du régime, n’ont pas trouvés une place dans les écoles publiques, ni même des maitres qui consentent à diriger cette éducation moyennant un juste salaire tant ils ont été accaparés par le nombre chaque jour grandissant des élèves.
Nous acceptons de bonne grâce cette carence qui ne peut que renforcer notre conviction dans la nécessité pour les Annamites d’organiser leur propre enseignement, quand l’épuisement des débouchés qui est prochain, s’il n’est pas déjà avéré, aura déterminer la masse à revenir aux conceptions plus saines d’une éducation qui soit une fin en soi et non pas seulement un moyen de se tailler une place dans les services publics.
3 Responses
Definitely, what a great blog and illuminating posts, I will bookmark your site.Best Regards!
This blog is an incredible resource for anyone looking to expand their knowledge on a variety of topics. The author’s writing is both informative and engaging, and their ability to present complex ideas in an accessible way is truly impressive. I appreciate the level of research that goes into each post, as well as the author’s commitment to providing balanced and unbiased perspectives. What I love most about this blog is its ability to make even the most complex subjects approachable and interesting. Whether you’re a casual reader or a serious scholar, there’s something here for everyone.