(Bài viết nhân 90 năm ngày Nguyễn Văn Vĩnh qua đời)
Phần hai.
ĐÀO TRINH NHẤT MỘT NHÀ VĂN CẨN TRỌNG
Nhà văn Đào Trinh Nhất người gốc Thượng Phán, Đồng Trực, Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình cũ, sinh năm 1900 tại Huế và mất năm 1951 tại Sài Gòn.
Ông là con trai lớn của Hoàng Giáp Đào Nguyên Phổ (1861-1908), văn thân yêu nước, là lãnh đạo quan trọng của ‘Đông Kinh Nghĩa Thục 1907’. Đào Trinh Nhất có người vợ là Lương Thị Hòa, con gái của danh nhân Lương Ngọc Quyến (1885-1917), và gọi Lương Văn Can (1854-1927) là ông nội.
Đào Trinh Nhất được gia đình cho lên Hà Nội học tiếng Pháp và Quốc ngữ lúc còn nhỏ. Ông bước chân vào nghề báo năm 1921. Năm 1925 ông vào Sài Gòn làm thư ký cho Văn phòng Phan Châu Trinh tại số 5 đường Catinat (nay là Đồng Khởi).
Năm 1926 Đào Trinh Nhất sang Paris học. Ông kết nối với luật sư Nguyễn Thế Truyền (1898-1969) là nhà hoạt động chính trị, ông viết cho báo “Việt Nam Hồn”.
Năm 1927 Đào Trinh Nhất trở lại Sài Gòn và theo nghiệp làm báo cho đến khi qua đời ở tuổi 52 tại Sài Gòn.
Năm 1935, Đào Trinh Nhất cho ra đời tờ báo MAI.
Viết về Đào Trinh Nhất, Bách khoa toàn thư mở đã mô tả như sau: “Ông được người trong giới cầm bút đánh giá là người có cách làm việc nghiêm túc, thận trọng và là người đã biết dùng ngòi bút nghệ thuật làm sống lại nhiều tư liệu đã mai một trong lịch sử cận đại Việt Nam!”
Đào Trinh Nhất vào nghề báo khi Nguyễn Văn Vĩnh đã thành danh. Lương Văn Can và Đào Nguyên Phổ đều là những bậc đàn anh, là đồng chí với Nguyễn Văn Vĩnh trong ĐKNT 1907. Họ chứng kiến những gì Nguyễn Văn Vĩnh đã làm, đã trải qua, và Đào Trinh Nhất đã không thể im lặng, ông đã khóc Nguyễn Văn Vĩnh bằng một bài báo có nhan đề:
NÊN KHÓC NGUYỄN – VĂN – VĨNH.
(Báo MAI – Sài Gòn ngày 9/5/1936).
Nếu có ai hỏi trong xã-hội ta hiện thời một người nào xứng đáng là bực hào-kiệt thông minh, đa tài đa nghệ, thì không phải dụ-dự gì, tôi nói: Nguyễn – văn – Vĩnh!
Nếu hỏi ai có công lao sự nghiệp với quốc-ngữ văn-hóa ta buổi đầu hơn hết, cũng không phải suy nghĩ chi, tôi nói: Nguyễn – văn – Vĩnh.
Nếu hỏi trong xã-hội mình bây giờ có một đời người nào lúc sống đáng kính-phục, lúc chết đáng khóc thương, thì cũng không phải ngần ngại tìm kiếm chi, tôi nói: ấy là cái đời Nguyễn –văn – Vĩnh!
Ông Nguyễn – văn – Vĩnh đã tạ-thế hôm 2 Mai ở Tchépone, hình như một địa-phương giáp ranh xứ Lào với miền Nghệ Tĩnh ta, là chỗ ông đang tìm mỏ vàng!
*
Khi nghe tin nầy, chắc cũng như tôi, nhiều người lấy làm ngậm ngùi thương tiếc vô cùng.
Không những thương tiếc vì nỗi báo-giới trong xứ mất một bực đàn anh cao-niên, chánh-giới Bắc-hà mất một tay lãnh-tụ cứng cỏi, nhứt là đáng thương tiếc cho những công-cuộc tô-điểm quốc-văn và xây dựng lâu đài văn-hóa mới của xứ ta lúc nầy, mất ông Nguyễn – văn – Vĩnh chính là mất đi tay thợ tài hoa xuất sắc, không dễ bỗng chốc tìm được tay thợ nào khác thế vô!
Một đời Nguyễn – văn – Vĩnh tôi có thể nói tâm tư ngày tháng đổ dồn vô văn-hóa hết chín phần mười, chánh trị chỉ có một. Duy có bốn năm trước đây, chúng ta thấy ông chủ trương thuyết “Trực-Trị” một độ, ấy là thời-kỳ ấy là thời-kỳ ông hoạt-động đó thôi.
Xuất-thân làm thông-ngôn hồi mới 14, 15 tuổi, ông Vĩnh đứng vào một số ít người có tây-học lỗi lạc và bước sớm hơn hết ở Bắc-hà. Thấy ông thông minh xuất sắc, có người muốn giúp cho ông qua tây học, nhưng vì gia-tình cản trở, ông ở nhà cặm cụi tự học mà trở nên người giỏi Pháp-văn và xem nhiều biết rộng lắm. Chính ông là người “tự học” (autodidacte) mà thành tài; hình như ông là người trước nhứt ở Bắc-hà đã viết chữ tây trên báo tây để tranh biện ý kiến với người tây.
Ba chục năm trước, hồi nhà nho mới chịu ảnh-hưởng Khang Lương mà tĩnh ngộ duy-tân, rầm rộ cổ võ những công việc doanh thương giảng học, biến pháp tự cường, tuy ông Vĩnh không phải là nhà nho duy-tân lúc bấy giờ và giúp đỡ cơ-mưu ý-kiến cho các cụ nhiều lắm. Còn nhớ hồi ở Hanoi có trường tư học là “Đông kinh Nghĩa thục”, mỗi ngày chúa-nhựt có cuộc diễn-thuyết công-khai, tuy lúc ấy tôi chưa biết nghe là gì, nhưng tôi đã biết thấy. Tôi thấy chúa-nhựt nào có chàng thanh-niên bận đồ tây, mặt tròn người đậm, lún phún hàm râu, tới trường diễn thuyết thì trai gái trẻ già đứng chật vòng trong vòng ngoài để nghe có đến đôi ba ngàn người, chốc lát có tiếng nổ pháo tay lôp-bốp. Người đó chính là Nguyễn – văn – Vĩnh.
Sau đó tài học ông Vĩnh lọt vô cặp mắt xanh của ông Schneider; ông nầy đem ông Vĩnh về chủ trương “Đông Dương tạp chí” và “Trung Bắc Tân-văn” (tức là tờ Trung Bắc Tân-văn lâu đời ở Bắc-hà, sau khi ông Schneider chết, về tay ông Vĩnh sỡ hữu và chủ trương tới nay). Chắc nhiều người nhớ trong Đông-dương tạp chí hai chục năm trước, có cô Đào-thị-Loan viết văn tài tình, lý-thú, ý-kiến mới lạ, ấy là ẩn-hiệu của ông Vĩnh đó.
Chứa sẵn tâm-chí, lại vớ được khí-cụ trong tay là hai tờ báo nầy, từ đó ông Vĩnh dốc lòng ra sức làm công việc truyền bá tư-tưỡng học thuật Thái-tây bằng chữ quốc-ngữ mà ông lo tô-điểm tài bồi mỗi ngày, đến đỗi có cái định-kiến rằng “Nước Nam ta mai sau hay dở là ở nơi quốc-ngữ”. Văn quốc-ngữ ông viết có một lối riêng, là vắn tắt, gọn gàng, dễ hiểu; và có tài riêng là viết mau như nước chảy, ngọn bút đuổi kịp tư tưỡng, cứ đặt bút xuống là viết thẳng băng một mạch, một hơi, mà sự đặt câu dùng chữ khéo cân nhắc rõ ràng lắm.
Muốn cho người tây được thưởng-thức thi-văn nước Nam, ông dịch Truyện Kiều ra chữ Pháp.
Muốn cho những đồng-bào không có tây-học cũng được nếm mùi văn hay tứ lạ của văn-học nước Pháp, ông chịu đem những tuồng truyện cũa các danh-sĩ như Rabelais, Vitor Hugo, Alexande Dumas, Prévost vân vân, mà phiên dịch ra quốc-văn. Ông phiên dịch cả thảy lớn nhỏ tới 15, 20 bổn sách tây. Cái tài phiên-dịch cũa ông ai cũng phải phục là hay, là khéo, giỏi, đứng số một.
Muốn cho quốc-ngữ được bớt phiền phức để dễ dàng truyền bá học mới và lợi dụng được các thứ máy in tối tân, ông mạnh bạo xướng lên sữa đỗi 5 cái dấu quốc-ngữ, mặc ai công kích chê cười.
Muốn mở mang công cuộc truyền bá văn-hóa cho rộng lớn, ông từng kinh doanh một cái nhà in lớn nhất Hà-thành sau mấy cái nhà in tây, cốt để xuất bản sách vỡ báo chí cho được in nhiều bán rẻ. Ông có chí muốn làm như “Thương vụ ấn thơ quán” ở Thượng-hãi hay là “Hachette” bên tây lận. Nhưng có lẽ mưu sự ở người, thành sự ở trời, cho nên chí muốn đó mà ông mang nợ hàng muôn, tiêu hết sự-nghiệp, cũng là một người bị con ma kinh-tế khũng-hoảng mấy năm nay đè cổ xuống.
Phải nói ngay. Sanh-bình ông Vĩnh có tánh cứng cõi, độc-lập, không chịu hót dân, cũng không bợ đợ nhà nước như lắm người lầm tưởng cho ông. Tánh tình rất rộng rải hào-hiệp, đối với ai cũng có vẻ bình-đẳng, tự nhiên, chớ không có thói kiêu căng vinh mặt như lắm ông tai mắt kia. Nhứt là không thèm háo danh trục lợi; mấy cái danh-vị như dân-biễu, như nghị-viên Đại hội-đồng Kinh-tế, với ông chỉ là phận-sự nghĩa-vụ mà thôi. Tôi nhớ chắc đời ông không hề bôn ba để kiếm mày-đay điều hay là bội-tinh nọ hàn lâm kia bao giờ. Tuy là văn nhơn, mà ông đủ tư-cách con nhà thể-thao; đi xe máy được, cởi ngựa được, bơi lội được, cầm tay bánh xe hơi được. Cho ông là người đa tài đa nghệ cũng phải.
Cứ xem ông viết báo, cả tờ “Trung Bắc Tân-văn” và tờ “L’Annam Nouveau” là tờ báo tây mới sáng lập mấy năm nay, mỗi kỳ đều thấy có bài ông viết, tỏ ra người có sức viết “khỏe” lắm, mà những vấn đề cỏn con, ông cũng khéo viết ra thành những bài lý-thú, khiến cho người đọc không chán. Không phải người ta đa tài đa nghệ mà làm được như vậy được ư?
Bị công nợ – do việc làm mà ra – bao vây tứ phía, mà tánh ông căng-cường, độc lập, không chịu mang ơn dung thứ cũa chủ nợ hay nhà băng, nên chỉ năm ngoái ông bán hết những quyền sở-hữu của ông về nhà in và hai tờ báo, thà là mình chịu nghèo. Trong trí ông định tạm nghỉ ít lâu để chờ cơ hội và kiếm tư-bổn rồi lại quật-cường tái-khởi. Mấy phen “lên voi xuống chó” rồi, ai cũng chắc người tài-lực chí khí như ông, thế nào nay mai cũng lên voi nữa.
Gần đây thấy trên báo “L’Annam Nouveau”, ông thuật chuyện mình lặn lội với những người tìm kiếm mỏ vàng ỡ xứ Lào. Người ta nói chính ông đi tìm mõ vàng, tức là ông định tự mưu lấy cơ-hội và tư-bổn để quật-cường tái-khỡi về công cuộc văn-hóa xuất-bản, là cái tố-chí cũa ông từ lúc đầu xanh đến nay bạc tóc!
Một người sanh bình coi tiền bạc như rác, khánh-tận mấy phen, bây giờ lại đi tìm mõ vàng, mà trong khi đang đi tìm mõ vàng, thấy mõ nào chưa không biết, thì số mạng rước đi mất, nghĩ tạo-hóa cũng trớ trêu lắm thay!
Cái đời ông Nguyễn – văn – Vĩnh đại-khái đáng phục khi sống, đáng khóc khi chết như vậy đó. Nay mai có ai viết cuốn sữ “Việt-nam Tân-văn-hóa”, tất ông Nguyễn – văn – Vĩnh phải chiếm được nhiều chương vẻ vang, xứng đáng, trên hết mọi người.
Ở trong tư tưởng và trước anh-linh ông Vĩnh, chúng tôi phải cúi đầu một cách cung-kính, đễ tỏ lòng mến phục than tiếc ông; luôn dịp chia buồn với ông đốc-tơ Nguyễn Hải, với thi-sỉ Nguyễn-Giang cùng tang-quyến.
MAI.
(Xin cảm ơn ông Võ Xuân Quế người đã sao lục bài báo này!)
Viết lời dẫn và chép sang bản mềm (word): Nguyễn Lân Bình.
Hết phần hai
