Cái đầu tiên thứ 7 – NGUYỄN VĂN VĨNH VỚI VIỆC CẢI TIẾN CHỮ QUỐC NGỮ.

(CHƯWQUÔCQ NGƯW DÔIZ MOWIQ)

Nhìn lại cuộc đời lao động với ‘con chữ’ của Nguyễn Văn Vĩnh, những ai quan tâm đều không thể không nhận thấy đó là một chuỗi dài mê mẩn (1)đến bất tận của ông. Xét ở khía cạnh tâm sinh lý con người, chúng ta không thể không ngạc nhiên về sự dẻo dai và kiên nhẫn có thể nói là vô tận của bộ óc người trong trường hợp Nguyễn Văn Vĩnh. Ông không chỉ lao động miệt mài thuần túy, mà ông còn lao động với sự sáng tạo không ngừng.

Chứng minh cho nhận định này về Nguyễn Văn Vĩnh, chúng tôi xin trình bày khái quát, một trong hàng trăm những công việc mà Nguyễn Văn Vĩnh đã thực hiện, được chí sĩ Nguyễn Văn Tố (1889-1947) gọi đó là những công trình, Công trình cải tiến chữ Quốc Ngữ

(LE QUỐC-NGỮ MODIFIÉ).

Cuối thế kỷ XIX, chữ Quốc Ngữ chưa được xác định là chữ viết chính thức của người Việt Nam, việc sử dụng rộng rãi thứ chữ này còn là điều mơ ước của một bộ phận nhân sĩ. Mặc dù quá trình tồn tại của thứ chữ dùng ký tự La Tinh này đã có từ hơn hai thế kỷ trước đó, song do chưa được phổ cập, nên điều kiện để một thứ chữ viết tự hoàn thiện, thích ứng với dân chúng hoàn toàn nằm trong sự giới hạn.

Vạn vật tiến hóa đều nhờ vào khả năng tự hoàn thiện bản thân, và cần sự vận động không ngừng ở phạm vi rộng, chữ Quốc Ngữ giai đoạn dài đã không có cơ may này do bối cảnh xã hội chính trị và lịch sử tạo ra.

Đầu thế kỷ XX, với những thay đổi to lớn của trí tuệ con người trên toàn cầu nói chung và ở Việt Nam nói riêng, các nhân sĩ yêu nước đã tác động bằng nhiều cách, kể cả bằng cách hi sinh để chữ Quốc Ngữ trở thành chữ viết chính thức của dân tộc Việt Nam. Điều này đã gây ra sự cay cú không nhỏ cho các thế lực ngoại bang.

Việc sử dụng thứ chữ viết mới này là kết quả của một cuộc cách mạng vĩ đại về văn hóa ở Việt Nam, nó đã phải đối mặt với rất nhiều thử thách do sự va đập giữa các hệ tư tưởng, các tập quán tư duy và cả sức ì bản năng của một dân tộc kém phát triển. Tuy nhiên, nó đã buộc phải chiến thắng, vì những nhu cầu bức thiết như một sức ép ở phương diện văn hoá và khoa học kỹ thuật.

Nguyễn Văn Vĩnh như một vận động viên điền kinh, chạy đua với những đòi hỏi bức thiết của tinh thần văn hóa dân tộc và cả của chính ông. Ông đã kiên định trước những lực lượng bảo thủ, những kẻ núp bóng truyền thống dân tộc, mà thực chất, chúng là tay chân của các thế lực ngầm, tìm mọi cách ngăn chặn sự độc lập về tư tưởng của người dân Việt, bài bác với luận điệu, rằng loại chữ viết dùng ký tự La Tinh là sản phẩm của văn hoá lai căng, của bọn tà giáo ngoại bang….

Nguyễn Văn Vĩnh đã ra sức chứng minh sức sống mãnh liệt, sự tiện lợi phù hợp cả với những người yếm thế, những kẻ không may, trí não hạn hẹp vẫn có cơ hội để cảm nhận tính phong phú của một loại chữ viết. Chữ Quốc ngữ đủ sức chuyển tải cảm xúc, khích lệ sức mạnh tinh thần, và những giá trị tình cảm, thông qua việc thể hiện những nội dung khác nhau mang tính trí tuệ khi người Việt dùng nó.

Việc Nguyễn Văn Vĩnh dịch các tác phẩm kinh điển của nhân loại ra chữ Quốc Ngữ, ông đã thành công rực rỡ vì đã nâng cao được vị thế của một loại chữ viết, giúp phát triển cuộc sống trí tuệ. Đồng bào của ông không chỉ tiếp thu, họ còn thấy được cái tuyệt diệu của ngôn ngữ đã giúp hình thành ý thức, thế nào là văn học? Khi người dân đọc hiểu, nó gợi óc khám phá, định hình được tính nhân văn, giúp cảm nhận được phần hồn cao cả từ các tác phẩm văn học lừng danh của loài người.

Sự vận động của trí tuệ là vô tận, Nguyễn Văn Vĩnh đã day dứt khi chứng kiến sự tiến bộ vượt trội của kỹ thuật in ấn trên Thế giới, điều mà ông luôn quan tâm vì nó gắn liền với nhu cầu quảng bá, lan truyền. Nhưng vì sao, nó đã loại chữ Quốc Ngữ của người Việt Nam ra ngoài sân chơi của nghành kỹ thuật bưu điện?

Ông đã nhìn thấy cái lý do dơn giản, vì thứ chữ của chúng ta có quá nhiều dấu, và nghành bưu điện không thể chuyển thành tín hiệu điện tín (morse), do các thiết bị in ấn đều được sản xuất từ châu Âu, phụ thuộc vào hệ chữ La Tinh, thứ chữ không có dấu âm sắc như tiếng Việt.

Nguyễn Văn Vĩnh đã không thể nghĩ đến điều này từ ban đầu, khi ông lao vào cuộc cách mạng ‘con chữ’. Những phát hiện này của ông chỉ được xác định khi năm 1922, sau chuyến đi bí mật với Phan Văn Trường (1876-1933) từ Paris sang Gutenberg (Đức) là trung tâm nghành in, với mục đích học hỏi.

Ông từng thấy mỉa mai, chua xót khi chứng kiến chuyện một người dân đã thất vọng, thậm chí rơi nước mắt chỉ vì nhận được một bức điện tín gửi từ Nam Định lên Hà Nội với các con chữ không có dấu. Điều đã làm cho người đó có thể trở nên kẻ vô tình, hoặc biến thành kẻ nhỏ nhen khi suy luận các chữ không có dấu trong một bức điện, và kẻ đó đã không biết phản ứng thế nào?

Câu chuyện điển hình nói về một bức điện, duy nhất chỉ có hai chữ: “Vo de”. Kẻ nhận điện có thể hiểu, hoặc là “vợ đẻ”, hoặc là “vỡ đê”, cả hai bối cảnh đều hệ trọng đối với bất kỳ ai trong cuộc sống. Thưa, nếu là “vợ đẻ” … bao nỗi ngờ vực sẽ hiện ra, còn “vỡ đê”… bao sự lo lắng sẽ trùm lên người nhận bức điện!

Với tính cách linh hoạt, say xưa vì sự nghiệp ‘con chữ’, cộng với sáng kiến rải rác của một vài thân sĩ có ý định chữ cái hoá các con dấu, nhưng chưa hệ thống hoá được một cách toàn diện… Năm 1927, trên tờ báo Trung Bắc Tân Văn do Nguyễn Văn Vĩnh làm Chủ bút, như một kẻ hướng dẫn, ông đã cho đăng các bài viết về công thức quy ước các dấu trong tiếng Việt, bằng các vần chữ cái La Tinh như:

Hai chữ a = â, a + w = ă, u + w = ư

Theo đó, nghành Bưu điện đã áp dụng thử nhiệm, và họ đã thành công (2). Kết quả, vừa có tính đúc kết các sáng kiến của dư luận xã hội, vừa có tính tổng hợp sáng tạo của kẻ cầm đũa chỉ huy. Nó đã chấm dứt những băn khoăn, lo lắng không phải chỉ của người dân, mà còn cho chính nghành Bưu điện. Sự sáng tạo này, đã làm tăng doanh thu một cách nhanh chóng, xét ở khía cạnh kinh tế của ngành điện tín.

Chính thành công này của Nguyễn Văn Vĩnh, đã thúc đẩy ông nghĩ đến việc cải tiến chữ Quốc Ngữ một cách toàn diện. Để phù hợp với tính công nghệ và thiết kế của các thiết bị kỹ thuật, ông đã cùng các cộng sự thân tín trong Tòa soạn của tờ Trung Bắc Tân Văn, quyết định quảng bá chương trình cải tiến chữ Quốc Ngữ bằng cách, mỗi một số báo đều dành chỗ để đăng một bài viết bằng chữ Quốc Ngữ cải tiến, nhằm giúp dân chúng làm quen với cách viết mới, đồng thời là cơ hội để xem xét điều chỉnh theo phản ứng của dư luận.

Nguyễn Văn Vĩnh đã kiên nhẫn thực hiện đề án này liên tục trong suốt 4 năm liền, từ 1927 đến 1930. Nghĩa là, cho đến khi Nhà Cầm quyền Thực dân lệnh đóng cửa và tịch thu giấy phép xuất bản bằng tiếng Việt của Nguyễn Văn Vĩnh, vì những mâu thuẫn chính trị giữa ông và Chính quyền ngày càng trở nên sâu đậm.

Những ức hiếp của Nhà Cầm quyền tuyệt nhiên đã không có giá trị gì đối với Nguyễn Văn Vĩnh. Để tiếp tục sự nghiệp đấu tranh giành quyền bình đẳng với kẻ cai trị mình, để không vướng vào các quy định kiểm duyệt hà khắc trong lĩnh vực truyền thông, và để không phải xin phép theo luật pháp, ông đã lập ra tờ báo tiếng Pháp L’Annam Nouveau (Nước Nam Mới)(3).

Vào bối cảnh đó, dư luận khắp ba miền đất nước đã nhìn Nguyễn Văn Vĩnh từ những góc tối khác nhau. Nhóm bảo Thủ đã đắc chí khi chứng kiến sự o ép của chính quyền đối với Nguyễn Văn Vĩnh(4), thậm chí họ còn khoái chí cá cược với nhau, xem ông liệu sẽ sống được bao lâu, trước sự bóp nghẹt của cường quyền?!

Nhóm Canh Tân, những người đồng chí của ông đã thẳng thắn ủng hộ, kề vai sát cánh, chia sẻ những khó khăn với ông bằng việc giúp ông thành lập tờ báo độc lập L’Annam Nouveauviết bằng tiếng Pháp, nhằm đối chọi lại chủ trương xây dựng thể chế Quân chủ Lập hiến theo đề xuất của Phạm Quỳnh (1892-1945) được Nhà Cầm quyền hậu thuẫn. Đồng thời tờ báo tố cáo những bất công của một chính thể quân phiệt, khi cố sống cố chết duy trì vai trò của triều đình Huế, trong khi quan điểm của Nhóm Nguyễn Văn Vĩnh, thì đó chỉ là một bộ máy bù nhìn.

Những năm 1930, 1931, do bị sức ép mang tính khủng bố của nhà cầm quyền, sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh thực sự rơi vào khủng hoảng. Cuộc sống cá nhân của ông vô cùng căng thẳng, công việc đình trệ, tài chính cạn kiệt… Nhưng vốn là kẻ chưa bao giờ biết sợ, chưa khi nào biết lụy ai, và có thể khẳng định, ông chưa chịu đầu hàng bất cứ điều gì, đến mức nhiều người đương thời không có khả năng hiểu được con người ‘kỳ lạ’ này, và đã ngây thơ kết án ông là kẻ nghêng ngang…!

Điểm lại những gì trong cuộc đời Nguyễn văn Vĩnh đã làm, hầu hết những việc ông khởi xướng từ khi mới hơn 20 tuổi, ông đều đã đi đến cùng, mà sự kiện lớn nhất, ý nghĩa nhất, đó là việc quảng bá, vận động toàn xã hội thống nhất sử dụng chữ Quốc Ngữ, vượt qua bao nhiêu rào cản của tập quán, vượt lên cả các bậc tiền bối, những người có tấm lòng, có tài năng nổi trội với bộ óc uyên thâm, nhưng họ thiếu biện pháp và phương thức phù hợp trong việc phổ cập chữ Quốc ngữ cho toàn dân.

Nguyễn Văn Vĩnh là con người thực nghiệp, kẻ đã thành công trong việc tạo sức ép liên tục lên toàn bộ hệ thống, xã hội chính trị và các tầng lớp nhân sĩ (đặc biệt là các Nho sĩ), để tiếp thu một nền giáo dục hiện đại, trên cơ sở sử dụng chữ viết tiếng Việt bằng ký tự La Tinh!

Dấu ấn lịch sử để lại là chỉ dụ năm 1919 của Vương Triều Huế, chính thức bãi bỏ việc dạy chữ Nho trong các trường tiểu học, cơ sở chính thức để chữ Quốc Ngữ lên ngôi và trở thành Quốc tự của dân tộc Việt Nam.

Sau khi hoạt động của tờ báo tiếng Pháp L’Annam Nouveau do Nguyễn Văn Vĩnh là Chủ bút đi vào hoạt động ổn định, ông chứng kiến việc Nhà Cầm quyền quyết định cho Nhà in Viễn Đông (IDEO- Imprimerie d’Extrême-Orient) xuất bản vội vàng một cuốn sách in bằng chữ Quốc Ngữ cải tiến theo kỹ thuật in Linotype với khổ sách 10cm x 14cm, dày 146 trang có tựa đề “Hướng dẫn đối thoại Pháp-Nam”, lấy tên của vị cố đạo R. P. Barbier là tác giả.

Nguyễn Văn Vĩnh phản ứng dứt khoát. Lúc đầu, ông dùng tờ báo của mình trình bày, giải thích đầy đủ những lý do dẫn đến việc cần cải tiến chữ Quốc Ngữ, vì như vậy sẽ đem lại những thuận lợi, những giá trị mới, và trọng yếu nhất là nó sẽ phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế, cơ sở để áp dụng những tiến bộ khoa học của nhân loại vào nghành in ấn và xuất bản ở Việt Nam.

Nhà in IDEO của Pháp xây dựng, hiện nằm trên đường Yên Phụ ở Hà Nội. Sau 1954 đã từng là trường Trung học Trung Hoa

Trên số báo 115, ra ngày 6.3.1932, Nguyễn Văn Vĩnh đã lý giải như sau:

 “Thứ nhất: Sử dụng được tất cả các loại máy xếp chữ và in. Áp dụng được tất cả những phát minh, sáng chế về in ty-pô của châu Âu và Mỹ. Các thiết bị in, thường chúng ta nhập từ Pháp. Khi in ấn xuất bản theo mẫu chữ Quốc Ngữ cải tiến, chúng ta không còn phải đặt sản xuất thêm những mẫu chữ riêng biệt nào theo đòi hỏi của chữ viết Quốc Ngữ.

Thứ hai: Gửi được điện báo bằng chữ Quốc Ngữ theo bất cứ phương pháp nào hiện có với những ký hiệu theo quy ước bằng chữ in, điều này sẽ loại bỏ những quy định bổ xung đặc biệt mà trước đây dùng cho mẫu chữ cũ. Khi áp dụng nguyên tắc chữ Quốc Ngữ mới trong điện báo sẽ thuận lợi cho việc thông tin bằng điện tín đến bất cứ đâu, cả điện đi lẫn điện về ở tất cả các Quốc gia trên Thế giới. Quan trọng là phương pháp này sẽ không phải sửa đổi bất kỳ chi tiết nào của các thiết bị in, và nhất là bảng nút bấm của máy đánh chữ do những ký hiệu sửa đổi đã được Quốc tế chấp nhận.

Thứ ba: Nguyên tắc mới này, giúp cho chữ Quốc Ngữ trở nên sáng sủa, rõ ràng theo đúng với các ghi âm Quốc tế đang sử dụng. Điều này có tầm quan trọng về cách viết những ký hiệu phát âm và giọng nói.

Theo cách phát âm của chữ Quốc Ngữ cũ, người viết phải viết thêm các dấu vào chữ viết, từ ngữ mình diễn đạt, việc này tạo ra một bộ phận những người viết nhanh, do vội nên thành viết ẩu đánh nhầm dấu này thành dấu kia, như âm sắc ( ) thành âm huyền ( ), dấu hỏi ( ) thành dấu ngã ( )…Các dấu này đều được thay thế bằng những chữ cái và được viết cùng hàng sau ngay từ ngữ được trình bày. Nó vẫn giữ được tầm quan trọng khi phát âm.

…Với cách này, sẽ loại bỏ được hẳn việc mất mát không bình thường giữa những dấu so sánh và những chữ viết”.

Những nhận thức về cấu trúc chữ Quốc Ngữ đã được Nguyễn Văn Vĩnh nung nấu từ rất lâu. Ông không phải chỉ nghiên cứu đơn thuần, mà ông còn soi xét ở nhiều góc độ khác nhau khi so sánh với các ngôn ngữ của các nền văn minh khác. Từ góc nhìn này, Nguyễn Văn Vĩnh đã bộc bạch trong loạt bài có chủ đề Chữ Quốc Ngữ cải tiến. Ông viết ở số báo 116 như sau:

 “Cần phải lưu ý, những ngữ điệu cao, thấp giọng trong tiếng Việt thường được thể hiện bằng các dấu, điều mà ở các quốc gia sử dụng hệ chữ cái La Tinh ở châu Âu không hề thấy. Ở các ngôn ngữ đó, dấu chỉ để tạo sự biến đổi của nguyên âm. Trong khi đó, với tiếng Việt, dấu đổi giọng cho cả một từ và tạo ra tiếng khác hoàn toàn, đồng thời trở thành yếu tố quan trọng cơ bản vì từ ngữ phụ thuộc vào dấu. Chúng ta chú ý, khi có cùng một âm, nhưng phát âm theo giọng cao hay thấp sẽ tạo nên một từ hoàn toàn khác, thậm chí không có quan hệ gì nữa giữa chúng. Viết một chữ sai đối với phụ âm chính, hoặc một phụ âm đứng ở cuối chữ, hay là một nguyên âm ghép, đều có thể không gây hậu quả nghiêm trọng. Thí dụ:

  • Sắt có lúc viết đọc thành sắc.
  • Hạn có lúc viết đọc thành Hạng.
  • Trâu có lúc viết đọc thành Tâu.

Nhưng ở trường hợp viết sai dấu, nó biến thành một chữ khác. Thí dụ:

  • Ma (con ma) viết thành (cái má)
  • Mao (lông) viết thành Mạo (giả mạo).

Tất cả những khía cạnh phức tạp của chữ Quốc Ngữ theo Nguyễn Văn Vĩnh, cần được tìm cách hạn chế. Ông là người động não liên tục, đắm đuối với tất cả những gì mình quan tâm. Vì thế, năm 1922, ông đã nhận một bài học khá mỉa mai khi tìm cách để cải tạo hệ thống máy móc, thiết bị in ấn có từ 30 năm trước đó, từ thời H. F. Schneider mang đến Hà Nội. Nguyễn Văn Vĩnh đã phải nhắc lại trên trang báo nỗi niềm của mình:

 “Còn về những máy xếp chữ, những cố gắng của tôi đã làm khi sang Pháp năm 1922 là để thuyết phục những hãng sản xuất lớn về các loại thiết bị in ấn của Mỹ và Anh, rằng khi sản xuất các thiết bị in để bán cho Việt Nam, xin cố gắng chỉnh sửa, thay đổi một vài yêu cầu cho phù hợp với tiếng Việt… Họ đã phớt lờ. Có phải họ phớt lờ vì họ đã bị tôi ngỏ ý rằng, đừng hy vọng tôi sẽ đặt một đơn hàng quan trọng mua các máy xếp chữ, đúc chữ và bàn đánh máy chữ sửa đổi dùng cho việc in chữ Quốc Ngữ.

Đối với những máy đánh chữ của hãng UNDERWOOD và ROYAL, rất tiếc là những hãng này đã khá nhiệt tình trong việc sửa đổi, điều chỉnh theo đòi hỏi của một vài khách hàng người Việt. Song, những điều chỉnh và sửa đổi này lại thực hiện theo hướng dẫn của những người quá ít kiến thức, kém hiểu biết về nghành công nghiệp in ấn. Vì vậy, để tiếp tục phải dùng tất cả các loại thiết bị đánh, in, xếp chữ cũ…và bao nhiêu việc khác nữa, cái dân tộc nghèo khó này vẫn phải áp dụng một cách sáng tạo điều mà tôi đề nghị…”.

Cùng với những lý do đã thúc đẩy Nguyễn Văn Vĩnh lao vào công cuộc cải tiến chữ Quốc Ngữ, cần phải quan tâm đến một sự thật khác, đó là việc, ai là người đã đứng ra đặt các nhà sản xuất đúc chữ in chữ Quốc Ngữ đầu thế kỷ XX?

Xin thưa, Không ai khác, đó chính là François Henri Schneider (1851…)(5). Những nhà sản xuất nổi tiếng là DEBERNEY và PEIGNOT đã chủ động bỏ vốn, chế tạo ra 127 mẫu chữ Quốc Ngữ phục vụ cho việc in các ấn phẩm tiếng Việt. Chính vì thực tế này đã giúp Nguyễn Văn Vĩnh nghĩ đến việc cải tiến chữ Quốc Ngữ để không phải đầu tư quá lớn về tài chính, khi các công ty in ở Đông Dương xuất bản các ấn phẩm in bằng chữ Quốc Ngữ.

Ngoài ra, Nguyễn Văn Vĩnh cũng khẳng định, khi không còn phải dùng hộp xếp chữ 127 mẫu tự, thay vào đó hộp chữ mẫu chỉ còn là 35 mẫu tự, công nhân xếp chữ thuận lợi hơn rất nhiều trong việc rút ngắn thời gian xắp chữ và nâng cao năng xuất lao động, giảm chi phí nhân công.

Kết luận

Chúng tôi đã tóm tắt sơ lược những gì Nguyễn Văn Vĩnh đã làm trước đề tài Chữ Quốc Ngữ cải tiến. Ông đã lao tâm khổ tứ trong tất cả các hoạt động của mình đối với việc làm hoàn thiện và làm giàu có hơn một thứ chữ viết, nhưng ông đã rất tự tin, tỏ ra khiêm nhường trong cách ứng xử với mọi quan điểm đa chiều trong xã hội. Ông bất bình khi Nhà Cầm quyền đã cố tình cho xuất bản cuốn sách“Hướng dẫn đối thoại Pháp-Nam” và vội vã làm chứng nhận bản quyền, song ông đã khiêm tốn và trịnh trọng nêu quan điểm của mình, trong bài viết phản bác đăng trên số báo 129 ra ngày 29.5.1932 của L’Annam Nouveau như sau:

 “Chúng tôi đã nghiên cứu và đề xuất một kiểu chữ Quốc Ngữ đổi mới mà chúng tôi tin rằng không chống lại phương pháp của Nhà in IDEO nêu trong cuốn sách đã in, vì nó hoàn toàn dựa trên cơ sở khoa học, tối thiểu, nó cũng đã chứng minh được sự vững chắc trước bất cứ một tổ chức hay cơ quan quyền lực nào chuyên về phát âm và ngôn ngữ học”.

Đáng tiếc, cho đến hôm nay, những cố gắng gần như bất tận của Nguyễn Văn Vĩnh trong lĩnh vực phổ biến, xuất bản văn học chữ Quốc Ngữ vẫn bị lảng tránh, bởi những định kiến chính trị lịch sử, cho dù ông không màng tới việc ‘ghi công’ với đời, vì ông luôn tự nhận, mình chỉ là “Người Man di hiện đại” mà thôi!

Ghi chú:

  1.  “Mê mẩn” ngôn ngữ của nhà văn Vũ Bằng (1913-1984) nói về Nguyễn Văn Vĩnh trong cuốn “40 năm nói láo”. NXB Văn Hóa 2000.
  2. Tạp chí Tem-Bưu điện Việt Nam số tháng 11.2011.
  3. Tham khảo bài: “Vì sao Nguyễn Văn Vĩnh thành lập tờ báo tiếng Pháp L’Annam Nouveau-Nước Nam mới”, tannamtu.com.
  4. Tham khảo bài “Ai giỏi đoán thì đoán cái này chơi” của Phan Khôi, tannamtu.com.
  5. François Henri Schneider (1851…) là người Pháp gốc Đức, chuyên gia về in ấn và xuất bản. Ông đến Nam kỳ năm 1882 theo hợp đồng được ký với Chính phủ Thuộc địa về việc xây dựng nghành xuất bản và báo chí. Ông rời Việt Nam năm 1922 sau tròn 40 năm tồn tại vói gần 20 năm hợp tác với Nguyễn Văn Vĩnh. Theo Nguyễn Văn Vĩnh, F. H. Schneider mất tại Pháp khoảng năm 1929-1930.

BBT.Tannamtu.com

Nguyễn Lân Bình.

(Chỉnh sửa lần cuối 3.2024)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  
July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  

Social Network