Cái đầu tiên thứ 4 – NGUYỄN VĂN VĨNH người Việt Nam đầu tiên là hội viên Hội Nhân quyền Pháp 1906.

(… một (người) dân muốn theo đòi văn minh thực, phải trọng cái tư tưởng riêng (của) từng người…) (Đăng Cổ Tùng Báo 10/10/1907 – NVV)

A. Lịch sử.

Thực dân Pháp chính thức đặt chân đến Đàng Trong (phần phía Nam của đất nước An Nam) vào nửa cuối của thế kỷ XIX. Cho đến năm 1930, trong tiềm thức của người dân An Nam, hình ảnh có tính khái quát về Thực dân là: Thô bạo, là chà đạp, là bóc lột, và bất bình đẳng…

Đất nước An Nam, một đất nước nông dân, chìm đắm trong lạc hậu, cai trị theo thể chế truyền nối. Sự chiếm hữu được chế độ Quân chủ chuyên chế duy trì nhiều đời, cùng hệ thống hành chính cồng kềnh, yếu kém, quản lý xã hội mang tính áp đặt, người dân chưa có khái niệm gì về một nền dân trí…

Việc người Pháp có mặt, liệu có tác động gì ‘tích cực’ tới tâm lý của các nhà ái quốc người Việt, ngoài những tiêu cực kể trên? Có phải, đã có những nhà yêu nước đã từng nhen nhóm ý đồ, hi vọng, và cả một chút lạc quan, rằng: Cái thế lực ngoại bang mới này, sẽ là cơ hội để họ ‘mượn’ cớ tìm cách lật đổ, thanh lý cái chế độ Phong kiến cổ hủ ngàn đời ở ta được chăng?!

Trong sâu thẳm, họ đã có ý định gì khi nhìn thấy Đại Pháp, một quốc gia văn minh, giàu có và phát triển? Liệu Đại Pháp, có những gì tốt hơn và trở thành cơ hội, dựa vào đó thay thế cái thực tại tăm tối ở đất nước An Nam?

Đáng tiếc, vì người dân An Nam đã phải triền miên sống trong tâm lý của những kẻ bị cưỡng bức, có rất ít hiểu biết về khoa học, chính trị, xã hội để đánh giá và so sánh. Thật khó để hiểu đúng về thân phận của chính dân tộc mình trước một đối thủ xa lạ, hùng mạnh như lũ Thực dân mắt xanh mũi lõ…  

Vậy là, mâu thuẫn giữa người Việt và người Pháp vốn đã không hay, càng trở nên nghiêm trọng một phần cả do sự khác biệt về tín ngưỡng, tạo ra sự mặc cảm sâu sắc, đến mức miệt thị lẫn nhau, biến thành sự thù ghét. Trong khi chính người dân An Nam còn chưa thật hiểu chúng ta là ai, đứng ở đâu trong vũ trụ này? Thì người Pháp Thực dân thái độ ngạo mạn, nhìn người bản xứ bằng con mắt khinh miệt. Rõ ràng, chúng ta bị đặt vào vị thế bất lợi!

Quy luật, khi một kẻ bị rơi vào thế yếu, để chống đỡ sự uy hiếp của đối phương ‘trên cơ’, bản năng Thiên tạo, bản năng sinh tồn buộc kẻ yếu hơn phải dùng đến sức mạnh của bạo lực. Sự uy hiếp kéo dài, kẻ yếm thế không chỉ khó có khả năng chống đỡ bằng sức lực, mà cả khả năng tư duy để đối phó cũng bị hạn chế, do thiếu kiến thức (trí tuệ), điều quan trọng có thể giúp thay đổi được cuộc chơi. Cuối cùng, vì không có những điều kiện căn bản, sự trả giá bằng xương và máu là điều không còn cách nào khác. Vậy để có được kiến thức nhằm đối phó với mọi sự uy hiếp, con người sẽ phải lấy từ đâu, nếu không phải từ sự học hành, tích lũy sự hiểu biết tạo nên tố chất giúp hình thành trí tuệ.

Trong lịch sử, đã có nhiều cuộc đụng độ xảy ra giữa các quốc gia, và cũng đã từng có kẻ may mắn, nhờ vận hội mà giành được thắng lợi. Nhưng đáng tiếc, có kẻ thắng trận, sau khi thoát được sự kìm kẹp của kẻ thù, nhưng vì thiếu khả năng tư duy, thiếu sức lực trí tuệ, đã không nghĩ ra được những điều cần làm vào giai đoạn hậu chiến… Và rồi, sự khốn khó vẫn cứ tiếp tục đeo bám, cuộc sống của dân chúng vẫn cơ cực bần hàn, nghèo vẫn nghèo và khổ vẫn khổ, họ âm thầm tự hỏi, cái chiến thắng đó có đáng không? Nếu như không có đụng độ thì có tốt hơn không?!

Thường, những hậu quả nặng nề để lại từ những cuộc đối đầu không cân sức, làm cạn kiệt khả năng hồi sinh của bên yếu hơn, cộng với những vết thương hữu và vô hình do cuộc xung đột để lại, tạo nên những căn bệnh trầm kha trong tinh thần và cả thể chất của một giống nòi, gây cản trở đến tiến trình xây dựng một xã hội phát triển trong một tương lai nhất định. Hậu quả, là lại biến kẻ thắng trận đó thành một cơ thể yếu kém, và nguy cơ lại trở thành con mồi cho những toan tính đến từ những đối thủ nham hiểm khác, trong khi cuộc đời chẳng bao giờ hết những kẻ tham lam và độc ác!

B. Tác động.

Thế kỷ 19, Việt Nam vốn là một đất nước nghèo khổ, với gần 1000 năm bị đô hộ bởi Phong kiến Trung Hoa, lại phải đối diện với sự áp đảo vượt trội của một đối thủ vừa ‘lạ lùng’, vừa có tiềm năng, đến mức làm cho dân chúng vừa sợ hãi, vừa giận dữ, cộng với sự thiếu hiểu biết về nhau, nên những gì thuộc về đối phương, đã đều bị coi là đáng ghét, dẫn đến tư duy mỉa mai, đau xót:

“… Ngày xem ống khói chạy đen xì, toan ra cắn cổ…” (1)

Cái ngày nhân sỹ Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) bộc lộ sự phẫn uất mang tính bản năng ấy, ông đã cay đắng và bất lực trước sự hiện đại đến kinh sợ của đối phương, của một thế lực ông chưa hề biết, và ông hô hào làm binh biến theo cách cực chẳng đã, rằng:

“Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh muôn kiếp nguyện được trả thù kia…” (2)

Và rồi ba chục năm sau đó, tình cảnh của đất nước An Nam vẫn không đổi khác, thậm chí ngày càng lâm vào cảnh bế tắc. Hận thù càng sâu, máu chảy càng nhiều, cùng một lúc, trên cổ người dân là hai tròng áp bức (Thực dân-Vua quan) thi nhau hà hiếp một dân tộc bần hàn, một dân tộc chưa khi nào được biết, rằng mình có được những quyền gì khi là một thằng người?!

Thảm cảnh của đất nước An Nam ngày ấy đã gây thất vọng đến mức, nhà cách mạng tiêu biểu Phan Châu Trinh (1872 -1926), đã không kìm chế được nỗi đau vì phải chứng kiến cảnh u mê, tăm tối của cả một dân tộc, ông thành thật đến mức mang tâm thế mong có được sự chia sẻ và giúp đỡ của chính kẻ cai trị, và ông gửi tới Quan Toàn quyền Đông DươngJean Baptiste Paul Beau Thư trước tác hậu bổ (15/9 năm Thành Thái thứ 18 – 1906).

Ông đã hi vọng (sau này, hậu thế đã có kẻ cơ hội, chế nhạo sự thành thật của ông) vào cái thằng người “Mắt xanh mũi lõ” kia, sẽ nhân danh là kẻ khai sáng, kẻ có nền văn minh nhân đạo với khẩu hiệu “Tự do – Bình đẳng – Bác ái”, kẻ có nền lịch sử quân sự hùng hậu, với danh tướng Nã Phá Luân (Napoleon) lẫy lừng, sẽ động lòng trắc ẩn mà ra tay cứu giúp một đất nước lầm than, một dân tộc đói nghèo, ông đã viết bằng tiếng Hán(3):

Cả mấy mươi triệu người như một đàn ruồi, lũ kiến, không còn có chút nhân cách nào, đó là thảm trạng trước mắt ai cũng trông thấy, không phải tôi dám nói quá lời để vu cho người cả một nước đâu…”.

Phan Châu Trinh không muốn phải nhìn cảnh đầu rơi máu chảy, những tang tóc mà ông đã nếm trải. Ông không muốn đồng bào mình lao vào sự đối đầu bằng cơ bắp, ông tin và cả hy vọng ở tính nhân văn của đất nước “Những người khốn khổ”, nơi sinh ra cuộc cách mạng dân chủ, gương sáng trong việc đi tìm đến tự do và sự bình đẳng cho mỗi con người. Ông tin vào lòng trắc ẩn, ông những mong, họ sẽ điều chỉnh chính sách cai trị đối với những người dân lành không được học hành trên quê hương của ông.

Tất cả đều biết, xung đột và chiến tranh đồng nghĩa với đổ máu, mất mát, khổ đau. Để một quốc gia tránh bị vướng vào cảnh ngộ đó, phải là một sự tính toán khôn ngoan, khéo léo và giàu tính trí tuệ của những kẻ trị vì. Vậy nhưng, Phan Châu Trinh không phải là kẻ đứng ở vị thế quyền lực.

Lịch sử đã có không ít những bài học trong những cuộc đối đầu lịch sử, bằng mọi cách người ta đẩy nhau vào sự hoang tàn… Nhưng với thời gian, khi xung đột qua đi, họ đã đủ thông minh, không tự biến mình thành những kẻ thù truyền kiếp của nhau. May mắn hơn, họ còn tìm ra giải pháp để trở thành những đồng minh, cùng nhau, hợp tác, hậu thuẫn và tạo dựng cho nhau sự phát triển, mà trước đó, khi xung đột, họ chỉ muốn ‘ăn thịt’ lẫn nhau.

Hình như ngày ấy, cái vòng kim cô của lối tư duy tiểu nông, thiển cận đã vây hãm chúng ta. Một đất nước nông dân, thật khó để biết được những kiến giải của những nguyên lý khoa học, triết học và kinh tế học, để nhận ra rằng, đối với một quốc gia: “Không có bạn hiền vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn thôi”.

C. Sức sống mới.

Trong lịch sử, mảnh đất An Nam đã từng xuất hiện những yếu nhân thấm được cái triết lý nêu trên. Với bản tính hướng thiện kèm cả sự lạc quan, các nhà yêu nước người Việt đã ‘chót’ tin vào những ý tưởng tốt đẹp của một kẻ đã cam kết sẽ tiến hành công cuộc khai hóa, để đôi bên cùng có lợi, cùng tồn tại, nhắm đến một cuộc kết giao theo giáo lý dân gian: Gạn đục khơi trong, tạo ra sự thuyết phục trong quá trình tồn tại, từ đó, cảm hoá lẫn nhau, hướng đến công cuộc Pháp – Việt đề huề (4).  

Những Nhà ái quốc ngày ấy, đã dựa vào bản tính chất phác của dân tộc mình, họ tìm đến sự tiềm ẩn trong tâm lý của một giống dân khao khát tự do, luôn sống với tư tưởng thánh thiện của Phật giáo là, tích thiện phục thiện.

Những yếu nhân đức độ đó hướng đến phương châm, làm sao để dân chúng được học hành, bởi họ tin, chỉ khi có học, trí tuệ con người sẽ hình thành, tạo khả năng hiểu biết, cảm nhận, dẫn tới sự hoà đồng, hạn chế tính hiếu chiến. Họ những mong, bằng việc nâng cao dân trí, mở ra khả năng hiểu biết lẫn nhau, đôi bên sẽ xác định được quyền và trách nhiệm của mỗi phía, và sẽ tìm được nguyên tắc cùng tồn tại, tránh đi những cuộc binh đao gây máu chảy, đầu rơi, tránh được cả sự thù hận và ly tán lâu dài.

Một xã hội ít hận thù mới tìm thấy sự hoà hợp, cơ sở phục vụ cho tình đoàn kết dân tộc, người dân mới cùng nhau tìm đến được sự tiến bộ đích thực.

Những yếu nhân xuất chúng ngày ấy, đã dùng đến phép biện chứng, áp dụng cho mối quan hệ với kẻ đang cai trị mình, giống như trong các cuộc ép duyên mang tính số phận, vẫn có thể sinh ra những đứa con khoẻ mạnh, đẹp đẽ, giàu tiềm năng cho đời, cho tương lai, và điều này đối với xã hội chính trị cũng không phải là khác biệt.  

Trong nhiều giai đoạn lịch sử, Tạo hoá đã hào phóng với nhân loại khi sinh ra không ít những gương mặt xuất chúng, khác với đa số. Cái khác người của những kẻ đó, là dám lĩnh hội vai trò tiên phong, trở thành kẻ dấn thân, để giúp những người bình thường cùng thời đại với mình vươn tới những điều tốt đẹp.

Vào hoàn cảnh tăm tối ngày ấy, sự xuất hiện một cậu bé nhà quê người An Nam, chỉ nhờ học lỏm mà thực giỏi tiếng Tây, tiếng Tàu, đặc biệt là cậu có tình yêu nồng nàn với tiếng nói mẹ đẻ. Cậu ý thức từ lúc còn rất trẻ rằng, con chữ là phương tiện đầu tiên, là thứ năng lượng giúp con người có được trí tuệ. Có chữ, có học, người ta sẽ thay đổi cách tư duy, sẽ hiểu mình là ai, mình nên làm gì, và được quyền có gì? Cậu đã cho rằng, để thay đổi vận mạng con người, vai trò của chữ viết và sự học là quyết định!

Cậu bé ‘nhà quê’ đó tin: Để một con người có nhân cách, để một dân tộc có cốt cách, sẽ chỉ có thể được tạo thành nhờ một môi sinh văn hóa tiến bộ. Cậu hướng dân chúng đến việc học hành, từ đó sẽ biết cách thoát cảnh đói khổ, làm cho quyền con người của chính mình phải ngang bằng quyền con người của kẻ đang cai trị mình, bởi lẽ cả hai đều là thằng người!

Làm được điều đó, sẽ xóa bỏ được kiếp nô lệ, chứ không phải chỉ có một con đường là trả giá bằng máu mới có sự tự do và cuộc sống no đủ…. Và người đó là Nguyễn Văn Vĩnh.

Trong lịch sử phát triển loài người, việc học đầu tiên phải thông qua quan sát, rồi đọc để học, nhưng muốn đọc nhất thiết phải có chữ. Chính nhờ biết đọc và cả được đọc, Nguyễn Văn Vĩnh đã thấm đẫm tư tưởng của nhà chính trị danh tiếng của nước Pháp, Alexis-Charles-Henri Maurice Clérel de Tocqueville (1805-1859 – Tác giả của Nền dân trị Mỹ) đã định nghĩa về cách mạng như sau:

“Chế độ phong kiến trước kia sụp đổ là do suy đồi và mất lòng dân, nhưng những cuộc bạo loạn xã hội không đem lại kết quả mà những nhà cách mạng mong muốn. Cả những kẻ thống trị và quần chúng cuối cùng đều bị ngọn lửa phẫn nộ nuốt chửng”.

D. Dấn thân.

Nguyễn Văn Vĩnh là viên chức từ khi mới 15 tuổi. Cậu lớn lên trong môi trường được tiếp cận với các loại ấn phẩm in tiếng Pháp tại nơi mình làm thuê, và đó là điều hiếm hoi ở xã hội Việt Nam thời Phong kiến.

Được Tạo hóa ban cho năng lực tiếp thu, bằng việc đọc tất cả những gì ‘rơi’ vào tay mình, ông đã ngộ ra cách tư duy triết lý của các bậc hiền triết. Sau này, trên con đường gây dựng sự nghiệp, ông đã luôn đòi dân chúng “Hãy học cách tư duy logic châu Âu!”. Lời kêu gọi này được ông thường xuyên nhắc lại trên tờ báo tiếng Việt do mình là Chủ bút Trung Bắc Tân văn –1917.

Ông sùng bái tư tưởng của các triết gia thời kỳ khai sáng ở thế kỷ 17 và 18, ông tán thành nguyên lý: Đối với con người, các quyền không thể tước bỏ được là các quyền tự nhiên do Tạo hóa ban tặng! Các quyền này sẽ không bị phá hủy khi một xã hội dân sự được thiết lập, và không một xã hội hay một chính phủ nào có thể xóa bỏ hoặc ‘chuyển nhượng’ các quyền này, đó là quyền làm người, quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc, và quyền được bình đẳng trước pháp luật.

Nguyễn Văn Vĩnh tâm đắc khi nghĩ về quyền con người, và ông muốn, rằng quyền con người cần phải được quy ước có tính tổ chức, nhưng ông lo lắng nhận ra, khái niệm về tổ chức đối với đồng bào của ông còn quá xa lạ, thậm chí nếu có, nó ở trạng thái rất sơ khai.

Nguyễn Văn Vĩnh biết, quan niệm của dân chúng đối với việc lập hội đoàn còn mơ hồ, trong khi ông muốn, người dân cần hiểu đây là sức mạnh của sự đoàn kết, là cơ sở để đối chọi với các thế lực cường quyền, nên ngày 10/10/1907, cho dù chữ Quốc ngữ còn chưa phổ cập, ông đã viết trên “Đăng cổ tùng báo” (báo tiếng Việt đầu tiên ở Bắc Kỳ) bài: “Hợp – Quần”.

Theo ông: Việc lập hội chỉ để quần thảo lẫn nhau về tư tưởng giữa các thành viên của hội, sẽ là một điều vô bổ.

Ông giải thích ý định của những người chủ trương tạo dựng Nhóm, là những người có cùng suy nghĩ để trở thành một Hội. Theo ông, tâm nguyện của người dân về việc lập hội ở các quốc gia khác nhau, không khác biệt nhau là mấy, nếu so sánh giữa các hội nhóm của người Pháp, người Tầu hay người An Nam. Cái khác, là cái giá trị về tầm tư tưởng, mục đích – lý tưởng của các thành viên khi tham gia vào các hội nhóm, ông diễn giải:

“… Như ở nước Pháp thì nghĩa hợp-quần là người ta hội-tụ nhau lại để thi hành một cái ý chung.

Ở Tầu thì là người một xứ, hoặc cùng một phương hội-tụ nhau để binh vực nhau, cứu dúp nhau tuỳ ý người trên.

Ở nước Nam ta thì hợp-quần là người một đẳng, một làng, một nghệ, hội-tụ nhau để vui chung, vui có trên có dưới, vui trẻ vui già, vui đóng vui góp, vui tranh nhau chỗ ngồi.

Nguyễn Văn Vĩnh nhấn mạnh:

Ông Tây thì mở một Hội ra ai hợp ý thì vào… Chủ nghĩa cái Hội nhớn ấy là quản trị việc cho dân ai ai cũng giữ được tự-do, bình-đẳng, cho mỗi người giữ được kỷ phận của mình. Muốn giữ được như thế phải có luật-phép… nhưng một dân muốn theo đòi văn minh thực, phải trọng cái tư tưởng riêng từng người. Một nước mà mạnh là vì nhiều người tài, mỗi người một tài riêng, thì mới thực là mạnh mà mạnh bền. Ép nài nhiều cái hèn lại dàng buộc cho chặt lại mà thành ra được một mớ sức thì cái sức ấy là như vật lực mà thôi”.

(Trích từ bài “Hợp – Quần”, bút danh: T-N-T).

Đọc tư duy của ông, ta thấy rõ sự tiến bộ vượt trội trong tư tưởng của một thanh niên 25 tuổi, tiếp thu một nền giáo dục hỗn tạp theo phương pháp Man di (Tới năm 1932, trong loạt bài bút chiến với Huỳnh Thúc Kháng về vai trò xã hội của Phan Bội Châu, Nguyễn Văn Vĩnh đã tự nhận mình là kẻ Man di nhưng Hiện đại), sống trong một xã hội luẩn quẩn, bế tắc ở một đất nước cực kỳ nghèo khổ, luôn bị chi phối bởi lối nghĩ cực đoan, tự an ủi mình theo hướng “…Dù trong, dù đục ao nhà vẫn hơn”.

Vậy nguồn cơn nào đã dẫn ông đi trên con đường khác lạ đến sững sờ như vậy, khi nhìn từ góc độ văn hóa truyền thống?!

Qua các ghi chép, người đời sau nhận ra vị Đốc lý Hà Nội (7/1905-2/1906) Hauser, thực sự đã đóng vai trò là tác nhân có ảnh hưởng sâu sắc đến sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh. Hauser, một luật sư được biết đến như một người có đầu óc tiến bộ, dân chủ, cũng giống như ông giáo D’Argence ở trường thông ngôn Đình Yên Phụ năm 1892, người đã phát hiện ra năng khiếu, cùng những đánh giá quan trọng về năng lực và tài trí khác người của cậu của cậu bé 8 tuổi là kẻ kéo quạt thuê trong lớp học.

Khi Hauser còn là Công sứ Bắc Giang-Bắc Ninh (1902), đã dám quyết định dùng cậu thông ngôn (người nhà quê) làm Chánh Văn Phòng Toà sứ, vượt mặt cả Phó sứ Eckert, một nhân viên của Sở Mật thám Pháp phụ trách an ninh (Ghi chép của Phạm Huy Lục – Chủ tịch Viện Dân biểu Bắc kỳ). Khi được điều chuyển về làm Đốc lý Hà Nội năm 1905, Hauser đã đưa Nguyễn Văn Vĩnh về cùng. Đây là một trong nhiều lý do để Nguyễn Văn Vĩnh giành được sự nể trọng trong con mắt người đương thời. Đặc biệt, là khi Nguyễn Văn Vĩnh được cử đặc trách, tổ chức gian hàng giới thiệu các sản vật xứ Đông Dương (Cochinchine) đưa đi trưng bày tại Hội chợ (Đấu xảo) Thuộc địa Mác Xây 1906.

Hội chợ Thuộc địa Mac Xây 1906.

Việc được sang Pháp khi mới 24 tuổi là dấu mốc lớn trong cuộc đời Nguyễn Văn Vĩnh. Ông được chứng kiến tận mắt những tiến bộ khoa học kỹ thuật của một nước Pháp công nghiệp, chứng kiến một xã hội phát triển, một lối sống sinh hoạt khác hoàn toàn với nhãn quan của người nông dân An Nam.

Trong 3 tháng lưu lại Pháp, tiếp xúc với người dân bản địa, ông thấy rõ họ không phải là những bộ mặt tiêu cực như đã từng gặp ở quê nhà trong phong thái của những tên thực dân, những kẻ đầu đội mũ cát, tay chống ba toong, bụng phưỡn, mồm ngậm tẩu thuốc, hống hách, trịnh thượng như chỉ sợ người dân bản xứ không biết, rằng mình là kẻ cai trị.

Nước Pháp, nơi Nguyễn Văn Vĩnh đến, đã trở nên cực kỳ hấp dẫn, ông trân trọng một thể chế chính trị có Nghị viện, hệ thống cai trị theo quy chế Cộng hoà, những thứ là cơ sở luật pháp để bảo vệ quyền dân chủ của con người, đúng với những điều ông tiếp thu được qua các học thuyết khi đọc sách.

Trên nữa, đây là là nơi sinh ra các danh nhân lừng lẫy trong lịch sử nhân loại, những gương mặt mà Nguyễn Văn Vĩnh ngưỡng mộ đến mức sùng bái, ông coi đó là cái nôi  của những tư tưởng tiến bộ như J.J. Rutxo, A. Dumas, H. de Banzac, V. Hugo… Tại đây, ông đã được hiểu tường tận thế nào là tự do, là bình đẳng, và thế nào là quyền con người?!

Tổng cộng, với 6 tháng sống trên đất Pháp, Nguyễn Văn Vĩnh nhận ra lối sống dân chủ, thái độ tôn trọng quyền tự do cá nhân, cách tư duy khoa học của các bạn người Pháp, họ không hợm hĩnh, không hống hách như những tên thực dân ở quê nhà bị người An Nam căm ghét. Họ cũng giống như HauserSchneider, là những người đang hợp tác cùng ông, giúp ông xây dựng sự nghiệp văn hoá.

Ông chứng kiến những giá trị có thực của cuộc Cách mạng Dân chủ Pháp 1789, của Công xã Paris 1871… Việc xuất hiện các ông Pierre ViergeLhermite mà Nguyễn Văn Vĩnh được tiếp xúc, và họ đã trở thành những người bạn tin cậy.

Cảm kích trước bản lĩnh và trình độ hiểu biết về ngôn ngữ và văn hoá Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh, Hauser và những người bạn mới đã quyết định giới thiệu với Hội Nhân Quyền Pháp (Ligue des Droits de l’homme) một công dân của một nước thuộc địa là Nguyễn Văn Vĩnh.

Họ vận động ông tham gia vào Hội, vì để có cơ hội bênh vực đồng bào của mình, ông cần phải là hội viên của Hội. Nhất là khi đất nước An Nam của ông còn đang là mảnh đất hồng hoang về luật pháp. Họ muốn ông là hạt nhân cho phong trào nhân quyền của một đất nước thuộc địa. Ngẫm ra, thật lạ vì thử hỏi, có kẻ cai trị nào muốn giúp một kẻ bị trị được bình đẳng…?

Nhờ những hiểu biết phong phú, những khát vọng lớn lao, và khả năng tiếp thu vô tận, Nguyễn Văn Vĩnh đã không đắn đo để trở thành hội viên chính thức người An Nam đầu tiên của Hội Nhân Quyền Pháp, đó là năm 1906.

Nguyễn Văn Vĩnh hơn ai hết, như đã dẫn ở trên, ông ngây ngất với tư tưởng cốt lõi của Cách mạng Pháp là: Tựdo-Bình đẳng-Bác ái. Ông đã ý thức được sâu sắc giá trị và nội dung của Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền 26/8/1789 của nước Pháp, hệ quả của việc tiếp thu những tinh hoa từ “Công ước nhân dân” của Cách mạng Anh năm 1688, đồng thời, nội dung đó cũng nằm trong “Tuyên ngôn độc lập” của nước Mỹ năm 1776, và sau này là kim chỉ nam cho “Tuyên ngôn Độc lập” của nước VNDCCH 1945.

Cơ sở khoa học của bản tuyên ngôn này chính là tư tưởng về “Phép tự nhiên”“Khế ước xã hội” của hai triết gia khai sinh ra nó, là John Locke (16321704) và Jean-Jacques Rousseau (Giăng Giắc Rút-xô 17121778), hai vĩ nhân trong con mắt của Nguyễn Văn Vĩnh ngày đó.

Khi trở lại Việt Nam, Nguyễn Văn Vĩnh đã ra công dịch trích đoạn từ các tác phẩm nổi tiếng của các triết gia này ra tiếng Việt, bởi từ trước đó, ông đã không muốn để các nhân sĩ yêu nước ngày ấy, khi muốn nâng cao tầm hiểu biết, họ đã phải đọc các luận thuyết tư tưởng kinh điển qua các bản dịch tiếng Hán!

Nguyễn Văn Vĩnh đã lao vào cuộc chiến đấu vô hình, chưa có tiền lệ trong việc làm cách mạng tư tưởng đối với những người nông dân là đồng bào của ông, khi nói về các nguyên lý trong cuộc đấu tranh giành dân chủ và quyền con người.

Nguyễn Văn Vĩnh đã hiểu chính xác, rằng nhân quyền phải được nuôi dưỡng dựa trên những giả định về quyền tự chủ của mỗi cá nhân. Trước khi có nhân quyền, mỗi dân tộc cần phải hiểu được rằng, mỗi cá nhân riêng lẻ có thể tự đưa ra những nguyên tắc đạo đức độc lập.

Việc ngày ấy, ông là thành viên chính thức của một tổ chức xã hội có uy thế, ở một đất nước phát triển như nước Pháp, nơi tôn trọng nguyên tắc, mỗi cá nhân phải là một thực thể đạo đức độc lập, và cá nhân đó phải có khả năng đồng cảm với người khác, quả thực là một sự khác thường.

Mọi người chỉ có được quyền của họ khi tất cả đều được nhìn nhận theo một cách cơ bản là như nhau!

Quyền bình đẳng không chỉ là một khái niệm trừu tượng hay một khẩu hiệu chính trị, nó phải được bản chất hóa dưới một hình thức nào đó, cho nên, ông đã sử dụng chính tờ báo do mình là Chủ bút, để nói với đồng bào của ông khái niệm về quyền tự do cá nhân như thế này:

“…Đạo đức cá nhân là ở chỗ thực hiện tự do của mình tránh không phạm đến tự do của người khác, không làm cản trở họ bất cứ điều gì, không tạo ra một lý do gì làm cho họ phản đối việc thi hành tự do của mình. Một cách để tự do của mình có giới hạn trong thực hành sẽ tự động ngừng lại ở chỗ bắt đầu tự do của người khác…”.

E. Kết.

Hơn một thế kỷ đã qua, từ khi là người Việt Nam đầu tiên tham gia vào tổ chức Nhân quyền của nước Pháp, Nguyễn Văn Vĩnh đã làm nhiều cách để giúp đồng bào của ông hiểu được thế nào là quyền làm người?!

Vậy nhưng cho đến hôm nay, người dân hình như vẫn lúng túng trong việc định nghĩa, thế nào là quyền con người? Thậm chí, vì sao chúng ta vẫn đắn đo trong việc xác lập cả quyền được im lặng của mỗi người? Mỉa mai hơn, là thực tế này đã đưa dư luận đến chỗ nghi ngại, xem cái quyền đó có đúng là quyền của con người không?

Từ gần 100 năm trước, tiền nhân đáng kính của chúng ta, nhà yêu nước Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947), người từng là Viện Trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ thời Pháp thuộc, và là Quyền Chủ tịch nước Việt Nam DCCH (1946) đã xác định cái quyền im lặng như một cương lĩnh:

“Nếu không có quyền nói thì ít ra cũng giữ được cái quyền không nói những điều người ta buộc nói” (báo Tiếng Dân 1927). Mới thấy Nguyễn Văn Vĩnh đã đi xa đến mức nào?! Có mỉa mai không khi ở đời này, những kẻ đi nhanh hơn bình thường, lại là lý do để mai hậu và đặc biệt, với những người có đầu óc đố kỵ, cố tình quay lưng với họ một cách có chủ ý.

Vậy nhưng, lịch sử không thể quên một sự kiện chính trị động trời đầu thế kỷ 20 ở Việt Nam, mà Nguyễn Văn Vĩnh là người Việt Nam duy nhất can dự, đó là năm 1908, ông đã thể hiện giá trị cao quý của quyền con người, nhân danh là hội viên Hội Nhân quyền Pháp, ký đơn gửi Toàn quyền Đông Dương Antony WladislasKlobukowski (1855-1934), đòi thả nhà cách mạng Phan Châu Trinh do bị bắt, vì Phan Châu Trinh vô tội!

Xin thưa, việc nhớ hay quên một con người, một gương mặt, không hề ảnh hưởng tới quyền con người trong một xã hội, vì quyền con người là nhân tố không thể thiếu dẫn đến mối quan hệ dân chủ, mà dân chủ (dù có các cấp độ khác nhau) là một đòi hỏi bắt buộc với bất cứ một thể chế chính trị nào (kể cả độc tài), bởi lẽ dân chủ mãi là chất oxy đối với một cơ thể sống. Lượng oxy càng nhiều thì cơ thể đó càng khoẻ, chân lý này không bao giờ cũ, bắt chấp cả điều người Anh thường nói: ‘Đừng bao giờ nói không bao giờ’!

Chúng ta có thể tin rằng, với một quãng đường dài đấu tranh tồn tại và phát triển, những người chịu trách nhiệm về vận mệnh của dân tộc, ngày hôm nay cũng đã xác định được:

“…Không một quốc gia nào có thể thực hiện quyền dân chủ trực tiếp ở tất cả các cấp cũng như trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng dân chủ trực tiếp càng sâu rộng và thực chất thì dân chủ đại diện càng hiệu quả…” (5).        

Chú thích:

  • Theo yêu cầu của Tuần phủ Đỗ Quang (Gia Định), Nguyễn Đình Chiểu đã làm bài văn tế, viếng 15 chiến sỹ đã hy sinh trong một trận đánh, chống lại những tên Pháp thực dân năm 1861 tại Cần Giuộc.
  • Trích trong bài “Văn Tế Nghĩa Sỹ Cần Giuộc”
  • Ngày 15.9.1906, Phan Châu Trinh viết bằng tiếng Hán văn bản kiến nghị gửi cho ngài Toàn Quyền Đông Dương, được gọi nôm theo tiếng Việt là: “Thư trước tác hậu bổ”. Theo yêu cầu của Phan Châu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh lúc đó mới 24 tuổi, đã dịch toàn bộ bản kiến nghị này sang tiếng Pháp “Lettre de Phan Chu –Trinh au gouverneur général en 1906”.

Năm 1933, khi Nguyễn Văn Vĩnh là Chủ bút tờ báo tiếng Pháp “L’Annam Nouveau – Nước Nam Mới”, đã cho đăng lại toàn văn bản kiến nghị này trên các số báo: 223, 224 và 225 ngày 26, 30/3 và 2/4.

Nhân ngày giỗ của Phan Châu Trinh, số đặc biệt của tuần báo “Tân Dân” in tại Hà Nội ngày 24.3.1949, đã cho đăng lại toàn văn bản kiến nghị này bằng tiếng Việt, bản dịch của giáo sư Đặng Thai Mai (1902-1984, nguyên Bộ Trưởng Giáo dục VNDCCH, Viện Trưởng đầu tiên của Viện Văn học VN).

  • Thập niên đầu ở thế kỷ XX, khi các phong trào yêu nước liên tục xuất hiện, tạo mối lo ngại cho Chính quyền Thực dân. Để trấn an xã hội, Chính phủ Thuộc địa đã đưa ra một viễn cảnh: nước Pháp sẽ nhân danh là người dìu dắt và khai hoá cho dân tộc Việt, giúp đất nước An Nam phát triển… và chính sách đó được các nhà chủ trương cách mạng người Việt Nam gọi là: Pháp – Việt đề huề.

     (5) Thông điệp đầu năm 2014 của Thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam.   

BBT tannamtu.com

Nguyễn Lân Bình.

                                     (Hiệu đính lần cuối 1.2024)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

April 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
2930  
April 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
2930  

Social Network