Cái đầu tiên thứ Ba – Bài dịch thơ ngụ ngôn của La-Phông-Ten (La Fontaine) đầu tiên – Trên tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở Bắc Kỳ (Tonkin 1907).

Bài dịch thơ ngụ ngôn của La Phông Ten (Lafontain) đầu tiên – Trên tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở Bắc Kỳ (Tonkin 1907).

A. Lời dẫn.

Nhìn tổng quát về sự nghiệp và cuộc đời của Nguyễn Văn Vĩnh, người quan tâm sẽ ngạc nhiên nhận ra rằng, tất cả những việc ông đã làm trong sự nghiệp, đều mang tính định mệnh.

Việc coi là định mệnh, bởi lẽ, qua một quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy, khi Nguyễn Văn Vĩnh bắt tay vào việc thực hiện các hoạt động có tính khai phá, nhãn quan xã hội của ông đều thể hiện lối nghĩ: Cái này cần, cần phải làm việc này!

B. Ngọn nguồn

Ngày 6 tháng 6 năm 1884, hòa ước Giáp Thân (Patenôtre) giữa Triều đình Huế với Thực dân Pháp được ký kết tại kinh đô Huế gồm có 19 điều khoản, chia nước Đại Nam ra làm ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ dưới ba chế độ chính trị khác nhau. Mỗi kỳ có một chế độ cai trị riêng như là ba nước riêng biệt. Nam Kỳ là xứ thuộc địa Pháp, Bắc Kỳ và Trung Kỳ là xứ Pháp bảo hộ nhưng Triều đình nhà Nguyễn trên danh nghĩa, vẫn được quyền kiểm soát (Wikipedia).

Bối cảnh chính trị xã hội Việt Nam được Bách khoa toàn thư mở giới thiệu ngắn gọn và cụ thể, giúp chúng ta hình dung được quá khứ mô hình tổ chức hành chính, thể chế chính trị của Việt Nam cách đây 130 năm.

Vậy bản chất của nó là gi? Ảnh hưởng ra sao đến nền văn hoá và cuộc sống tinh thần của người dân An Nam? Thực tế này đã cho thấy sự khác biệt vùng miền, cộng với việc bị phân chia thành các chế độ cai trị khác nhau, đã tạo ra các mức độ chênh lệch nhất định về xã hội dân trí, do bị phụ thuộc vào chiến lược thôn tính của Thực dân.

Đây là rào cản tâm lý đối với những nhà ái quốc chân chính, những người đang vật lộn đi tìm các giải pháp để canh tân một đất nước, vừa bị phân biệt, vừa bị chi phối bởi ảnh hưởng của lối sống phong kiến với đặc tính cố hữu, thêm cả sự hà khắc của các thiết chế được thiết lập bởi chế độ Thực dân. Một đất nước luôn bị giằng xé giữa những ý thức hệ khác nhau, những tôn giáo khác nhau, và những lợi ích khác nhau, người dân bị phụ thuộc vào một thực tế, là hơn 90% không có và không biết bất cứ một loại chữ viết nào!

Ngày hôm nay, chẳng ai trong chúng ta có khả năng để cảm nhận hết những khó khăn khủng khiếp của một dân tộc nghèo đói, lại phải ‘lặn lội’ đi tìm ánh sáng cho cuộc sống tinh thần, như Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Bao nhiêu ngôn từ trong kho tàng tiếng Việt nói về sự cơ cực của giai đoạn lịch sử đó, chắc cũng chẳng thấm vào đâu!

C. Sinh sôi.

Là kẻ giàu trí tuệ và khát vọng, cùng với huý tâm, Nguyễn Văn Vĩnh đã thản nhiên can dự vào cuộc cách mạng văn hoá tinh thần của người Việt, chỉ vì ông thấy dân tộc này cần thay đổi, cần sự tiến bộ (không loại trừ, ông cũng không chủ trương “làm Cách mạng” theo lối tư duy sau này của hậu thế!).

Người đời sau khó có thể nghi ngờ, khi tìm hiểu rõ căn cốt trong tư tưởng và nhận thức của Nguyễn Văn Vĩnh về lý do, vì sao cần phải tạo cho người dân có được tri thức?! Ông đã luôn tin rằng: Tri thức sẽ giúp con người ta thoát được sự lầm than và đói nghèo, trí thức sẽ làm cho con người tránh tranh giành quyền lợi bằng bạo lực.

Có một đoạn văn do nhà nghiên cứu khoa học xã hội Việt Nam Nguyễn Văn Tố (1889-1947), ghi lại lời trần tình của Nguyễn Văn Vĩnh trước các cử toạ, diễn ra tại Hà Nội năm 1907, ở một trong những buổi diễn thuyết bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp tại Hội quán Trí tri, về phạm trù đạo đức, được lồng trong buổi diễn thuyết cổ xuý cho sự học, chiến lược sống còn của Phong trào Đông Kinh Nghĩa thục. Ông nói:“Giả sử ta hiểu rõ hơn được sự nhu cầu về vật chất của người ta, và biết cách lợi dụng cực khôn khéo các tư cách của cá nhân, mà lại có lòng thiết tha, tôn trọng các hình thức cuộc phát triển và tiến bộ của cá nhân, thời tất nhiên là có thái độ luân lý. Nhưng luân lý là ở cả trong tấm lòng thiết tha ấy. Tuy khoa sinh vật có thể giúp ta thích dụng cái chí làm điều thiện một cách thiết thực hơn, nhưng đối với cuộc hành động của cá nhân tuyệt nhiên nó không có cái quan hệ nhân quả vậy. Sinh vật học chẳng qua chỉ vạch cho ta biết đâu là điều hay lẽ phải theo nghĩa là người, cái công ấy kể cũng đã to lắm rồi. Duy luân lý mới có quyền sai khiến ta thực hành điều hay lẽ phải ấy. Khi nào luân lý chỉ bảo ta biết được rằng điều hay lẽ phải ấy phù hợp với điều hay lẽ phải theo nghĩa luân lý…”(1)   Theo logic, với tư tưởng nhận thức như trên, thì đó chính là cơ sở để Nguyễn Văn Vĩnh thực hiện bước đi đầu tiên trong sự nghiệp của mình, nó đã dẫn ông đến việc chọn lọc dịch ra tiếng Việt các tác phẩm triết học, văn học kinh điển in bằng tiếng Pháp, phục vụ cho mục tiêu: Duy luân lý mới có quyền sai khiến ta thực hành điều hay lẽ phải ấy…

Điều này, đã thôi thúc Nguyễn Văn Vĩnh quyết định dịch sang tiếng Việt tập truyện thơ ngụ ngôn của Jean de la Fontaine (1621- 1695) – La Phông Ten (âm Hán Việt còn được gọi là Lã Phụng Tiên).

Nguyễn Văn Vĩnh sớm nhận ra những giá trị sâu sắc của các câu truyện ngụ ngôn, mà nội dung bao gồm đủ các cung bậc cảm xúc, và hết sức đời thường, dành cho mọi tầng lớp trong dân chúng. Trong các câu chuyện của La Phông Ten, nó phơi bày những mâu thuẫn, giữa bản chất nhút nhát của những nhóm người thấp cổ bé họng, và sự tham lam, cường bạo của những nhóm người quyền lực.

Mặt khác, Nguyễn Văn Vĩnh chọn La Phông Ten vì, theo đánh giá của các nhà nghiên cứu: La Phông Ten là nhà thơ Pháp duy nhất hiểu và làm chủ những kết cấu tinh vi trong ngôn ngữ Pháp, trước cả Victor Hugo (Theo Gustave Flaubert-Wikipedia).

Nguyễn Văn Vĩnh muốn tận dụng những nét tinh hoa của một loại ngôn ngữ có vị thế, để bổ khuyết cho chữ viết tiếng Việt dùng ký tự La Tinh vẫn đang trong trạng thái bán khai, nhằm minh chứng năng lực phong phú có thật của một thứ ngôn ngữ, một loại chữ viết vốn luôn bị các thế lực ngoại xâm kìm hãm trong nhiều thế kỷ.

Giai đoạn từ 1897 đến 1900, khi Nguyễn Văn Vĩnh mới 15 tuổi, là viên chức cho Toà xứ Lao Cai, cơ quan đầu não, đại diện của Chính phủ Thuộc địa ở một tỉnh. Trong cái môi sinh văn hoá nơi ông làm việc, có các phương tiện truyền thông như sách, báo, khác xa với môi trường văn hoá truyền thống của người dân An Nam thời đó.

Giả thiết, nếu như Nguyễn Văn Vĩnh theo Nho học, nền giáo dục truyền thống, chỉ hướng đến việc đào tạo làm quan cho hệ thống chính trị của xã hội Phong kiến, và nhờ học giỏi rồi ông đỗ đạt, hẳn ông sẽ dễ dàng tìm được một chức phận trong bộ máy của xã hội đương thời, và… Ông sẽ vẫn quẩn quanh, sống an nhàn với võng lọng, mũ chuồn và hia, hài không hơn!

Thừa hưởng những chủ trương về cải cách xã hội do Toàn quyền Đông Dương Paul Dumer (1857-1932) để lại, năm 1907, các nhân sĩ yêu nước người Việt đã động viên cuộc Cách mạng Văn hoá(2) lấy tên là Đông Kinh Nghĩa thục (ĐKNT)(3), do Phan Châu Trinh (1872-1926) chủ sướng. Theo luật định của Nhà Cầm quyền, việc thành lập cơ sở giáo dục nhất thiết phải xin phép.

Thay mặt các nhân sĩ tiến bộ, hai ông Nguyễn Quyền (1869-1841) và Lê Đại đã hai lần gửi đơn, song vẫn không nhận được sự phản hồi của Chính quyền. Để tận dụng thời cơ, tranh thủ những lợi thế cá nhân, kẻ đã dám đứng ra khuyến khích việc khai trương ngôi trường ở số 10 phố Hàng Đào do cụ cử Lương Văn Can làm Hiệu Trưởng chính là Nguyễn Văn Vĩnh(4). Ông gánh luôn trách nhiệm trước Nhà cầm quyền, hợp thức hoá sự hoạt động của cơ sở này(Mặc dù ông đã xin thôi làm công chức cho Toà Đốc lý Hà Nội).

Vậy phong trào ĐKNT đã tổ chức hoạt động truyền thông bằng cách nào?

Theo kinh nghiệm lịch sử đối với các phong trào, đương nhiên phải làm tốt việc tổ chức các hoạt động truyền bá, vận động kêu gọi nhằm đạt được sự tham gia của càng đông người càng tốt. Từ đây, mới tạo dựng được thành phong trào.

Để có thể đem lại những kết quả cần thiết trong hoạt động tuyên truyền,  quần chúng nhất thiết phải biết chữ, phải có loại ngôn ngữ phổ thông, cơ sở để truyền bá các tư tưởng tiến bộ. Tuy nhiên, vào thời điểm lịch sử đó, tất cả những điều vừa nêu, xã hội Việt Nam đều chưa có hoặc không có!

Trước ĐKNT đến ba chục năm, trong Nam kỳ đã xuất hiện những thân sỹ xuất chúng như Trương Vĩnh Ký (1837-1898), Huỳnh Tịnh Của (1834-1907). Song phần đất phía Nam ấy, được nằm trong quy chế có nhiều quyền chính trị hơn, đó là Thuộc địa, khác xa với Bắc và Trung kỳ là xứ Bảo hộ.

Hai ông thiết tha mong muốn xây dựng một nền học vấn cho dân chúng. Họ có kiến thức phong phú nhờ được đào tạo và học hành có hệ thống do là người công giáo. Họ biết rõ, tri thức là sức sống trí tuệ của một giống dân, là cơ sở để phát triển một xã hội tiến bộ.

Tuy nhiên, dù họ đã làm rất nhiều để mong cho tinh thần đó được lan toả, kể cả việc tận dụng sự ‘hậu thuẫn’ ở một mặt nào đó của hệ thống chính trị đương thời. Nhưng những cố gắng của họ đã bị dừng bước trong một phạm vi giới hạn của lịch sử, của bối cảnh xã hội Việt Nam cuối thế kỷ 19.

Đồ rằng, có thể, những nguyên nhân thất bại lại do chính hệ thống và ý thức chính trị đậm tính khác biệt của hệ thống cai trị giữa 3 miền đất nước tạo ra, điều đã ngăn cản sự thành công của một cuộc cách mạng!

Cũng cần phải kể đến sự xung khắc tôn giáo gay gắt giữa Phật giáo và Công giáo ở Việt Nam giai đoạn lịch sử đó, thậm chí phải nói là khốc liệt. Bị chi phối bởi tính bảo thủ của Triều đình Nhà Nguyễn, đã tạo sự mâu thuẫn về xu hướng phát triển trong đời sống văn hoá tinh thần người dân. Cuối đời, chính Nhà bác học Trương Vĩnh Ký cũng phải bất mãn mà than rằng:

“…Rằng tuy ăn ở cùng Tần

Bâng khuâng nhớ Hán muôn phần xót xa…” (5)

Có thể, chính sự nghiệt ngã của một xã hội dở giăng dở đèn đó, đã dập vùi những kẻ tiên phong, họ đã không thể trở thành những hạt nhân của một phong trào, cơ sở để biến thành cao trào như ĐKNT ở Hà Nội năm 1907.

ĐKNT ngọn lửa tinh thần văn hoá linh thiêng bùng cháy, đó là vận hội cho những tâm hồn ái quốc muốn tìm đếm sự độc lập về bản sắc văn hoá. Đây là cơ hội ngàn vàng cho sự chia tay với nền giáo dục nô bộc Phong kiến, và là cơ may, để người dân Việt Nam tiến thẳng về hướng sử dụng thứ chữ viết riêng mà số phận đã ưu ái ban tặng từ trước đó 250 năm: Nói thế nào thì viết như vậy, đúng như khát vọng của Nguyễn Văn Vĩnh.

Không có thủ lĩnh, không có phong trào, không có phong trào không thành cao trào để biến thành cuộc Cách mạng. Không có cách mạng không thể tạo ra bước ngoặt, trở thành dấu ấn lịch sử. Điều này không ai dám phủ nhận!

D. Hành sự.

Giáo sư sử học Chương Thâu, chuyên nghiên cứu về Nhà yêu nước Phan Bội Châu đã đưa ra nhận định khi nói về ĐKNT: Đăng cổ tùng báo 1907 (ĐCTB) chính là cơ quan ngôn luận của Phong trào Đông Kinh Nghĩa thục! Thật tuyệt vời, vì ĐCTB được là cơ quan ngôn luận bằng tiếng Việt của một Phong trào cách mạng văn hóa, từ khi người Việt vẫn phải dùng chữ Hán và tiếng Pháp trong đời sống hành chính và giáo dục!

Thật khó để thuyết phục trước nhận định này của vị giáo sư, nếu không có một ngày, chúng tôi tìm được tờ Đăng cổ tùng báo số 813, ngày 15.8.1907. Tờ báo đã đăng toàn văn kiến nghị của các thân sỹ yêu nước gửi Nhà cầm quyền, yêu cầu cho phép và hậu thuẫn việc thành lập “Hội Dịch sách”. Bản kiến nghị này được chính Nguyễn Văn Vĩnh thảo và đọc toàn văn trước 300 cử tọa ngày 26.6.1907 tại Hội quán Trí tri (la Société d’Enseignement Mutuel du Tonkin) (6) ở 47 phố Hàng Quạt Hà Nội.

Đoạn đầu của bản kiến nghị đã thể hiện như một lời kêu gọi toàn xã hội:

“Ở thế-dan này, xem trong các nước gọi là nước văn-minh, là cũng có văn-chương riêng cả, tiếng nói thế nào, chữ viết như thế. Mà cái văn-minh người ta cũng ở đó mà ra, vì chữ có là ảnh tiếng nói thì mới dùng để chuyển sự hay đi trong nước ai ai đều học được cả…

Một cách nữa là nghĩ điều gì hay, làm ra sách thì tư-tưởng chuyển đi được xa, mỗi quyển sách in ra nhiều người đọc được… Chữ viết mà giống tiếng nói, thì một người viết một quyển sách, in ra bao nhiêu quyển, đã hình như nhân cái miệng mình ra bấy nhiêu lần…”   

Nay kính trình.

Đỗ-Văn-Tâm. Hiệp-biện-đại-học-sĩ;

Trần-Văn-Thông, Đốc-học tràng hậu-bổ;

Lương-Văn-Can, Giáo-trưởng Đông-kinh-nghĩa-thục;

…………………

Nguyễn-Văn-Vĩnh, Chủ bút Đại-nam-đăng-cổ-tùng-báo.

Phục vụ cho chủ trương và đường lối khai dân trí của ĐKNT, đồng thời chứng minh sức sống của Hội Dịch sách do Nguyễn Văn Vĩnh đề xướng và sáng lập, lần đầu tiên, ông đã chính thức cho đăng câu chuyện lấy từ tập truyện thơ ngụ ngôn của La Phông Ten có tựa đề: Chuyện con chó sói và con chiên con trên số báo 821, ra ngày thứ Năm 10.10.1907.

Sự kiện này đã chính thức đánh dấu sự nghiệp văn học dịch của Nguyễn Văn Vĩnh, mặc dù cho đến tận năm 1928, tập truyện thơ ngụ ngôn của La Phông Ten mới được Nguyễn Văn Vĩnh cho in đại trà tại nhà in Trung Bắc Tân văn và chính thức đưa ra thị trường. Cuốn sách này còn được minh hoạ bằng tranh vẽ của hoạ sỹ Mạnh Quỳnh (1917-1991).

Năm 1969, Nhà Xuất bản Cảo thơm Sài Gòn đã cho tái bản tập truyện dịch này. Thật thú vị, vì trong lần tái bản, cuốn sách đã đăng cả lời tự bạch của tác giả khi dịch. Để thấy cái tâm, cái nguyện của Nguyễn Văn Vĩnh, chúng tôi so sánh nội dung của hai lần tự bạch, một trên Đăng cổ tùng báo số 826 ngày 14.11.1907, một trên cuốn sách in năm 1928 (cách nhau 21 năm), phản ánh những chi tiết hệ trọng liên quan đến sự nghiệp dịch của ông.

Thứ nhất:

Trong lời tự bạch năm 1928 có câu: “Tập dịch-văn này tôi làm ra kể đã lâu lắm rồi, khi còn ít tuổi chưa làm văn vần bao giờ…”.

Trong khi bài đăng trên Đăng cổ tùng báo năm 1907 số 826, không có ý này. Như vậy, chắc chắn Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch tác phẩm này từ khi ông còn đang ở độ tuổi 20, vào lúc trình độ tiếng Việt của ông còn rất non trẻ.

Thứ hai:

Lời tự bạch năm 1907 có đoạn:“…Và các ngài cũng biết cho rằng dịch lấy đúng mà lại còn vần thì nghe vẫn khó, nhưng các ngài có xem nguyên-bản bằng chữ Pháp cho, thì mới biết được rằng cũng đã dùng sức lắm…”

Và ở nội dung lời tự bạch năm 1928, ông lại viết:“…nhưng các độc giả cũng nhiều ông xét quá rộng cho là dụng công dịch lấy đúng. Đúng đây là đúng cái tinh thần…”

Qua hai trích dẫn trên, chúng ta hiểu, cái lo trong lao động trí óc của Nguyễn Văn Vĩnh là nỗi lo thường trực, thể hiện tính trách nhiệm của người dịch, của người chuyển tải những tinh hoa văn hóa của một dân tộc khác, đến với độc giả ở một nước lạc hậu như An Nam ngày đó.

Thứ ba:

Trong lời tự bạch của Nguyễn Văn Vĩnh năm 1907, chúng ta cảm nhận được tính dâng hiến, tính dấn thân cũng như tính tiên phong trong lao động của ông, nên ông đã viết: “Chúng tôi thì cũng là khí liều, nhưng có người dám liều thế thì mới có người khác làm hay hơn”.

     E. Minh hoạ.

1. BBT.Tannamtu.com trân trọng giới thiệu với các quý vị độc giả nguyên văn câu chuyện ngụ ngôn đầu tiên của La Phông Ten do Nguyễn Văn Vĩnh dịch, in trên Đăng cổ tùng báo số 821 ngày 10.10.1907 tại Hà Nội.

2. Chúng tôi cũng xin giới thiệu 2 câu chuyện khác của La Phông Ten được in thành sách để đưa ra thị trường năm 1928, và đến năm 1942, Nhà Xuất bản ‘Alexan de Rhord’ đã tái bản tại Hà Nội cùng với tranh vẽ minh hoạ của họa sỹ Mạnh Quỳnh. Nhà Xuất bản Cảo thơm Sài Gòn tái bản năm 1969 với chữ ký của hoạ sỹ Mạnh Quỳnh phía dưới các bức vẽ minh họa.

3. Câu chuyện “Con chó rừng và con cò” là một trong hai câu chuyện mà Nguyễn Văn Vĩnh đã đặt khảm trai trên bộ tràng kỷ được làm vào tháng 12 năm 1919. Hình ảnh chúng tôi giới thiệu trên chiếc ghế tràng kỷ, chính là bức hình phù điêu được thể hiện dưới chân ngôi mộ của La Phông Ten hiện đang tồn tại ở nghĩa trang nổi tiếng nhất thế giới ở Paris Père-Lachaise (Cimetière du Père-Lachaise).

Trân trọng!

Chú thích:

  1. Sách “Nguyễn Văn Vĩnh là ai?” trang 49. NXB. Trí thức HN 2013.
  2. Quan điểm của giáo sư Chương Thâu trong sách “Văn thơ Đông Kinh nghĩa thục” trang 11. NXB. Hà Nội 2010.
  3. Đông Kinh nghĩa thục, phong trào cải cách xã hội giáo dục Việt Nam từ tháng 3.1907 đến tháng 11.1907.
  4. Dẫn lời của nhà giáo, nhà nghiên cứu sử Hà Nội Nguyễn Vinh Phúc (1926-2012) trong tập 2 của bộ phim tài liệu lịch sử “Mạn đàm về Người Man di hiện đại” 2007.
  5. Trích trong bài viết của Hồng Lê Thọ, 7.2008.
  6. Là một hội đoàn dân sự, chủ trương quảng bá tân học, gồm các đề tài như vệ sinh, phong tục, kiến thức khoa học mới lạ dành cho việc nâng cao dân trí, tồn tại từ năm 1892 đến 1945.

BBT.Tannamtu.com.

Nguyễn Lân Bình.

(Hiệu đính lần cuối tháng 12/ 2023)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  
July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  

Social Network