CHUYỆN BUỒN CỦA NGƯỜI HÂM MỘ NGUYỄN VĂN VĨNH

(Cảm xúc sau khi đọc bài “Bộ sưu tập Nguyễn Du và truyện Kiều ‘khủng’ gần 800 cuốn quý giá của thầy Khánh” của tác giả Trần Hùng, đăng trên báo Thanh Niên ra ngày 31/12/2017)

Buổi chiều cuối cùng của năm, tôi dự định sẽ đi tới chỗ này… đến chỗ kia, nhưng rồi lại quyết định ngồi ở nhà điểm báo. 

Thật hay, vì thế giới có Google, tinh hoa trí tuệ của nhân loại, mà nhờ nó, ngồi một chỗ ấm áp, người ta vẫn biết sự xoay vần của thế sự.

Tôi bắt gặp bài viết của báo Thanh Niên, nói về một nhà giáo ở Thái Bình đã yêu quý Truyện Kiều đến mức sưu tập được tới 720 bản của mọi giai đoạn lịch sử. Tôi bị ấn tượng với con số 720, và tôi đọc miên man bài viết về con người đó…

Khi tôi đọc tới đoạn: 

“Bản Kiều cổ mà thầy sở hữu đầu tiên là bộ “Kim -Vân – Kiều” do cụ Nguyễn Văn Vĩnh dịch, gồm 2 tập (tập 1 xuất bản năm 1942, tập 2 xuất bản năm 1943). Chia sẻ đến đây, thầy hăng hái hơn bao giờ hết…”.

Tôi cảm giác như có điều gì đó lai láng trong tâm tư của mình vì câu: “Thầy hăng hái hơn bao giờ hết…”. 

Tôi ngây ngất suy đoán, hình như có cái chất ‘bùa mê’ gì đó lờ mờ ẩn hiện giữa tác giả bài báo với thầy Khánh, với Truyện Kiều, và… với cả dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh.

Tôi dám chắc, ở đời chẳng có gì ‘tự dưng’…. nhất là những gì liên quan đến Kiều.

Ảnh một trong các tủ sách gồm các bản Kiều của thầy Vũ Văn Khánh tại nhà riêng.

Tôi liên tưởng đến một câu chuyện cũ mà tôi học được qua cuộc sống, cái câu chuyện nó đã thức tỉnh tôi động não để chú tâm nhiều hơn vào sự hiểu biết về Truyện Kiều, về ông nội mình, ông Nguyễn Văn Vĩnh… Nguồn cơn câu chuyện là thế này:

Đi ăn sáng

Mùa Hè năm 1971, cái năm Hà Nội bị lụt lội kinh hoàng, chiến tranh không quân ở phía Bắc Việt Nam đang lên đến đỉnh của sự tàn khốc, tôi ở Bungari về nước.

Cha tôi lúc này mới có 50 tuổi, nhưng ngày đó, có lẽ không phải chỉ có tôi, mà mọi người đều nhìn các bậc phụ huynh ở cái tuổi 50 với con mắt nể trọng, vì đã là lớp người ‘già’…

Buổi sáng ngày đầu tiên sau khi từ nước ngoài về, cha tôi bảo:

“Bình đi ăn sáng với cha!”. (gia đình tôi quen gọi tên con và xưng là cha, mẹ)

Tôi hơi ấn tượng về việc được bố gọi đi ăn sáng ở ngoài đường, bởi lẽ lúc còn ít tuổi, nhà nghèo ‘rớt mùng tơi’, làm sao có chuyện đi ăn ở sáng ở ngoài hàng?! Quanh năm ngày tháng, mấy anh em chỉ chăm chăm vào cái nồi cơm nguội, có thể sẽ ăn cơm với nước mắm, cũng có thể sẽ được phép của mẹ lấy thìa mỡ mà rang lên, vì mỡ lợn là thứ thực phẩm giàu năng lượng nhất của cuộc sống ngày ấy, nên ai cũng phải dè xẻn. 

Chẳng vô cớ mà thường lúc còn nhỏ, khi đi chợ xếp hàng mua thịt bằng tem phiếu, mẹ tôi luôn nhắc:

“Con phải cẩn thận đấy, khéo mất phiếu mua thịt, mà nhớ là mua mỡ nhé. Nếu hết mỡ thì xin mua sườn hiểu không?”. 

Theo chế độ sinh hoạt ngày ấy, những năm 60, người dân được một lạng thịt/tháng (100 gram). Cán bộ, công nhân, lao động nặng thì được hơn, nhưng thường không qúa 1 kg/người/tháng, ngoại trừ những trường hợp làm ở môi trường độc hại, hoặc công nhân mỏ. Vì vậy, nếu người mua muốn được gấp đôi tiêu chuẩn in trong tem, phiếu, hãy xin mua mỡ, thịt thủ, sườn, mẹ tôi dặn là vì thế!

Hôm nay, tôi được cha cho đi ăn sáng, vậy còn các em tôi thì sao? Tất nhiên, tôi cũng chỉ thoáng nghĩ đãi bôi thế thôi, chứ biết chắc chắn… các em đã có cơm nguội!

Cha tôi đưa tôi đến một nơi ở đầu phố Mai Hắc Đế (số nhà lẻ), nhưng làm gì thấy hàng hiệu gì đâu, chẳng có biển ghi gì cả, khách đến cứ tự lôi nhau vào sâu sâu trong cái ngõ hẹp tôi tối và ngồi đợi. Tôi băn khoăn, chẳng hiểu gì nên buộc lòng phải hỏi: 

“Cha ơi, mình ăn cái gì ở đây?”.

Cha tôi nói cụt lủn:

“Cháo, ngon lắm”. 

Rồi ông hỏi nhỏ tôi:

“Bình ăn cháo tim gan bao giờ chưa?”.

Tôi khẳng định:

“Chưa ạ!”.

Khi người nhà của nơi bán hàng bưng ra hai bát đặt trước mặt cha con tôi, cha tôi bảo rất khẽ (nhiều năm sau tôi mới hiểu, vì sao lúc đó cha tôi phải nói khẽ?!):

“Cháo tim gan đấy, ngon lắm, cha chiêu đãi nhé nhân Bình về nước, ăn đi…!”. 

Khi đứng dậy ra về, tôi tò mò xem cha tôi sẽ trả mấy hào? (Ngày ấy chỉ tiêu bằng hào, 10 hào = 1 đồng, lương người thường khoảng 40 – 45 đ/tháng, gạo mùa có giá là bốn hào/kg, còn gạo chiêm chỉ có ba hào 6 xu). Tôi thấy ông bố mình đưa ra đến 3 đ cho 2 bát cháo. Tôi lặng người không biết nói gì, và… Tôi không còn thấy bát cháo tim gan ngon nữa!

Uống cà phê.

Cha tôi lại bảo với tôi:

“Đi, con sang đây mình uống cà phê. Ở bên Bun Bình có uống cà phê không?”.

Ông chỉ tay sang bên kia đường, và tôi thấy chỉ đi mất mấy phút đã đến đầu phố Huyền Trân Công Chúa (nay là Bùi Thị Xuân).

Tôi cũng không thấy có biển hiệu gì, mà khi nhìn vào quán, tôi cũng lại chỉ thấy tôi tối… vậy thôi. Ngày ấy, tôi có quan tâm gì đến cà phê đâu, mãi cho đến lúc lập gia đình (29 tuổi) mới biết thưởng thức cà phê, nước trà, bia, rượu và cả thuốc lá.

Tuy nhiên, cha tôi vẫn gọi cho tôi một cốc cà phê sữa… Tôi thấy ngỡ ngàng, bởi lẽ thời đó, hộp sữa đặc có nhãn giấy màu xanh do Liên Xô sản xuất in chữ to “MOLOKO” có giá 1đ 7 hào, dùng pha vào cà phê, và đó là một thứ hàng xa xỉ. Loại thực phẩm này chỉ dành cho người đẻ và bán bằng phiếu, mà cũng chỉ được đâu có mấy hộp vào những tháng đầu sau khi sinh, và phải có giấy của bác sỹ xác nhận là người mẹ bị không có sữa cho con bú. 

Vậy mà hôm nay tôi được uống cà phê sữa…. quá ghê gớm, làm sao tôi quên được?!

Một cảnh cuộc sống sinh hoạt của người dân ở Hà Nội được chụp vào năm 1970 (Ảnh trên internet)

Bước ngoặt.

Chiến tranh đang điên cuồng, tôi vẫn chưa được nhập hộ khẩu. Thời ấy, không có hộ khẩu coi như người chết di động. Không có hộ khẩu, đừng yêu cầu bất kỳ quyền lợi gì đối với chế độ như sổ mua gạo, tem phiếu cho mọi loại nhu yếu phẩm, xin đăng ký radio, hoặc đăng ký xe đạp…. Nhưng với tôi, cuối cái năm 71 đó, vẫn được ‘ưu tiên’ nhập ngũ mặc dù chưa có hộ khẩu.

Rồi những ngày nằm trong rừng Trường Sơn, rất nhiều lần nằm trên võng mơ màng nhớ đến những tháng ngày no đủ ở xứ sở hoa hồng, nhớ từ cốc sữa chua, cho đến những lần được phép ăn cả nửa con gà nướng… Nhưng tôi đã không thể không nhớ đến cái bát cháo 1,5 đồng, rồi khi đến ăn đừng nói to, và cốc cà phê sữa ở cái cửa hàng không có biển hiệu, đừng nói đến bảng giá….

Ơn Trời, tám năm quân ngũ, có đến 5 năm ở Trường Sơn, khi trở về tôi vẫn nguyên vẹn. Rất nhiều người đã từng không tin, rằng tôi là lính Trường Sơn, vì làm sao môi tôi không thâm, và mắt không trắng (trắng dã)? Theo quan niệm của mọi người ngày ấy, lính Trường Sơn phải là mắt trắng, môi thâm và da tai tái…. Hệ quả tất yếu của sốt rét và mưa rừng.

Một bức ảnh may mắn tác giả được chụp năm 1974 tại một con suối ở đường Trường Sơn, khu vực phía Tây tỉnh Quảng Bình. (Lân Bình bên trái)

Đời thường. 

Khi trở lại cuộc sống dân sự, nó đã giúp tôi hòa nhập vào những sinh hoạt đời thường của những kẻ có đồng ra đồng vào. Thật càng khó để tin rằng, một anh lính đi chiến trường về mà lại trở thành phiên dịch.

Ngày ấy, phiên dịch là một nghề cực kỳ hiếm hoi và ‘đẳng cấp’, bởi lẽ cái nghề ‘bơ thừa sữa cặn’ ấy, nó cho phép chúng tôi có mức sống hơn người. Phải khẳng định, làm phiên dịch ngày ấy, còn dư giả và ‘nghênh ngang’ hơn các gương mặt ‘đại gia’ ngày nay. 

Thực tế vì xã hội thời đó cực kỳ nghèo, nhiều người sống rất khó khăn với cảnh được bữa sáng lo bữa tối, vậy nhưng, ‘lũ’ phiên dịch, nào lên xe xuống ngựa, nào hút thuốc lá ngoại, nào ra vào những nơi mà người dân chẳng bao giờ dám bén mảng đến, như khách sạn Thống Nhất (Metropol), khách sạn Thắng Lợi (Hồ Tây), cửa hàng cao cấp sổ B (có người gọi là Giao tế) ở phố Hàng Trống (Bờ Hồ)….

Tôi bắt đầu ‘học đòi’ các bậc đàn anh, cũng phì phèo thuốc lá ngoại, cũng gọi bia chai Hữu Nghị, cũng cà phê cà pháo mỗi sáng….

Ngày ấy (cuối những năm 70, đầu 80) Hà Nội có những quán cà phê ‘máu mặt’ nào, tôi cũng biết, như cà phê Giản (Hàng Gai), cà phê Tuyên (Trần Hưng Đạo), cà phê Hói (Bà Triệu)…. Nhưng tôi nhớ đến cái kỷ niệm về cà phê với cha tôi ở cái phố Huyền Trân Công Chúa năm nào, và tôi lại mò đến đều đều.

Làm phiên dịch được một năm, số phận lại ưu ái một lần nữa, tôi lại được sang Bungari. Năm năm trở về, tôi trở nên sành sỏi hơn trong việc quán xá. Hà Nội bắt đầu có các cửa hàng ăn tên tuổi phục vụ cho tầng lớp mới phất lên nhờ cuộc sống thay đổi. 

Người ta đến 202 phố Huế, gọi cả miếng bít tết bò to như bàn tay, rót những ly rượu từ những chai rượu nhập có giá bằng cả hai tháng lương người lao động bình thường, và bên bàn ăn, mọi người được nói cười, chúc tụng râm ran như pháo nổ, chứ đâu cứ phải thì thụt, nói năng thì thào như ngày nào cha con tôi đi ăn cháo tim gan, trả tiền đấy, tiền của mình đấy, mà khi ăn, ăn như ăn vụng….

Cuối những năm 80 đầu 90, quán cà phê ở Hà Nội ngày một nhiều, phố nào cũng có, rồi cả cà phê ‘đèn mờ’ phục vụ nhiều kẻ đến không phải để uống cà phê…. Nhưng tôi nhớ cái bữa ăn sáng kỷ niệm ngày xưa với bố mình, và hình như, theo tập tính của thằng người, khi đã ấn tượng với điều gì rồi thì cứ thế hành động đó lặp lại, dần biến thành thói quen, và tôi lại mò đến hàng cà phê ở Huyền Trân Công Chúa. 

Đến những năm tháng đó, tôi mới được biết, rằng quán cà phê này có từ thời Tây (trước 1954), và được gọi là Moka. Cứ thế, những người khách thường xuyên tới đây biến thành lối sống của họ, không phải chỉ vì hương vị của cái thứ đồ uống mình đã quen, mà còn vì những gương mặt có cùng sở thích, bàn những đề tài và nói những câu chuyện mà họ cùng quan tâm, rồi cứ thế nó biến thành thói quen tụ tập. Nhiều ngày, khi đi ăn sáng xong, tôi lại đến nhâm nhi cái vị cà phê ‘kỷ niệm’ ở đó.

Rồi một lần, nhóm những người ‘nghiện’ cái vị rất riêng này của quán Moka nhìn thấy tôi đến, họ ồ lên bảo nhau:

“A đây này, ông này là cháu cụ Vĩnh đấy, cháu gọi bằng bác cái ông “Chùa Hương” đấy, nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp ấy!”.

Tôi cũng không rõ vì sao hôm đó mọi người lại có thái độ rộn ràng như vậy khi nhìn thấy sự có mặt của mình? Tôi ngồi xuống cạnh một anh bạn ít tuổi hơn, người mà hình như đang là tâm điểm của buổi cà phê. Ngày đó tôi chơi tennit, nên tôi cũng loáng thoáng biết anh ta là người cũng đánh tennit ở sân CLB Quân đội, nhưng tôi không có quan hệ trực tiếp. 

Dáng người anh thâm thấp, da sạm ngăm ngăm, anh nói năng khá kẻ cả, cái cách nói của những kẻ hiểu biết hơn người, nhưng anh đã giành cho tôi một chất giọng thân thiện khi quay sang nói với tôi:

“Ôi, em biết anh từ ngày xưa, lâu lắm rồi…”.

Tôi ngạc nhiên lắm, hỏi lại:

“Vậy à? Anh nói từ ngày xưa là từ bao giờ? Ở đâu?”.

Anh ta nhẹ nhàng trả lời:

“Em là công nhân ở công trình xây dựng nhà trẻ Bun, nhà trẻ Đimitơrốv, bên hồ Đồng Nhân ấy. Hồi đó anh làm phiên dịch cho các chuyên gia Bungari, ông Panko, đúng không? Úi giờ, ở công trình ấy ai mà chẳng biết anh! 

Nhưng qua mọi người nói chuyện, hôm nay em mới biết anh là cháu nội cụ Nguyễn Văn Vĩnh…  Anh ạ, Cụ Vĩnh giỏi lắm, phải đọc mới biết cụ ấy giỏi thế nào?!”.

Tôi tỏ ra ngờ ngợ những điều anh ta nói, bởi lẽ, anh vừa cho biết, rằng anh là công nhân xây dựng. Là công nhân, mà anh lại nói như một nhà nghiên cứu về một người nổi tiếng trong lịch sử văn hoá Việt Nam là cụ Vĩnh, mà tôi biết chắc, khối người mang danh nhà này nhà nọ, với chuyên môn đấy, học vị đấy, cũng có biết Nguyễn Văn Vĩnh là ai? Còn nếu họ có biết, thì cũng chỉ biết loáng thoáng và theo hướng tiêu cực thôi. Tôi thật sự ngờ vực, nhận thấy thật khó hiểu điều anh ta bộc lộ.

Tôi lại hỏi anh tiếp, nhưng thực chất là với thái độ và giọng điệu chất vấn:

“Tại sao anh lại quan tâm đến cụ Vĩnh?”.

Mọi người ngồi chung quanh bàn cà phê ồ lên, vì câu hỏi làm lộ ra sự ngây ngô của tôi. Lập tức có mấy người cùng nói:

“Ơ, thế thì ông Bình ngớ ngẩn quá, thằng cha này (chỉ tay vào anh bạn) nó là trùm sách cũ đấy, kinh lắm. Mà thằng này nó đọc và nó nhớ nhiều lắm, từ lâu lắm rồi bố ạ! Thế nên mọi người mới gọi nó là: ‘Việt sách’!”.

Tôi à một tiếng dài, vỡ nhẽ và mạnh dạn xin nhận ngay với mọi người chung quanh, rằng tôi đúng ‘nhà quê’, chẳng biết gì về thiên hạ mà lại nói năng ra điều ta đây. Ở đời, thật xấu, khi có kẻ ra vẻ hỏi hay đố người khác điều mình đang muốn biết, nhưng thực chất là muốn học mót ở họ điều mình không hiểu, vậy mà thay vì tỏ thái độ cầu thị, tôi lại dùng cái chất giọng ‘bề trên’ như là chất vấn người ta. 

Tôi không hơn không kém, cũng là hiện thân và là hệ quả của lối sống một thời, chỉ ‘tôn trọng’ người lao động bằng khẩu hiệu, còn bụng dạ thì coi họ chẳng là gì. Thoáng thấy thiên hạ có gì đó khác hơn cái mình vẫn quan niệm, là nghi ngờ, phủ nhận vì cho rằng, dân đen… biết gì! 

Tôi đã hối hận, lập tức xin lỗi anh Việt, và tự nhận mình là kẻ quá đáng.

Thật hay vì anh bạn đó không hề tỏ ra khó chịu trước thái độ cao ngạo của tôi, ngược lại, anh vẫn tiếp tục vồn vã bằng một chất giọng rất nể trọng. 

Trong cuộc đời này, tôi là kẻ may mắn. Đã rất nhiều lần, ở những cuộc tiếp xúc vô tình với nhiều gương mặt có danh, với mọi lứa tuổi ở những môi trường văn hóa khác nhau, nhưng khi họ biết tôi là cháu nội cụ Vĩnh, tôi đã được nhiều người trân trọng, nhất là khi họ hiểu rõ, tôi gọi nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp là bác ruột, và cả cái câu chuyện cha tôi là người đầu tiên xây dựng Đài Tiếng nói VN năm 1945. 

Những người yêu cái hình bóng Hà Nội ngày xưa, khi trò chuyện, đều biết nhà văn Vũ Bằng với tác phẩm rất Hà Nội ‘Thương nhớ mười hai’, ông là người cùng tổ tình báo ngoại tuyến với người bác ruột của tôi là Nguyễn Phổ (em liền kề với Nguyễn Nhược Pháp). 

Nhưng mọi người quan tâm đến Nguyễn Phổ không phải chỉ dừng ở đó, mà họ ấn tượng vì sau 1954, nhóm tình báo đó, dẫn đầu là ông Trần Quốc Hương (Mười Hương) được điều vào Sài Gòn, riêng bác tôi xin ở lại Hà Nội vì lý do gia đình. Đầu năm 1955, phía công an đã bắt ông với tội danh làm gián điệp… 

Ông ở tù 17 năm liền với những lý do rất mơ hồ, mà bản án cũng không có nội dung như pháp luật quy định. Khi bác tôi được trả tự do, Chính phủ đã xin lỗi và minh oan cho ông, vì ‘nhầm’… Sau này, Nhà nước đã để ông truy lĩnh những quyền lợi chính trị của một nhân viên tình báo quân đội.

Cứ cộng vài chi tiết như tôi vừa nhắc đến, trước con mắt của những người tôi tiếp xúc, họ đều không dấu được sự đồng cảm, thấy tôi và gia đình mình đáng thương quá, họ động lòng, mà từ chỗ động lòng đến chỗ nể nang chỉ cách có mấy cetimet. 

Tuy là đứa nhận thức chậm, xong cuộc sống đã giúp tôi luôn nghĩ, mình hãy làm gì đó cho xứng đáng, đừng để hổ thẹn với các bậc tiền nhân, những người đã ban cho mình lòng kiêu hãnh chính đáng.

Lúc này, anh Việt quay hẳn sang phía tôi ngồi, kể với giọng điệu thầm thì như khi người ta nói chuyện kín:

“Anh biết không, sách và báo của cụ Vĩnh có giá lắm đấy. Em là người bán được cuốn Truyện Kiều của cụ Vĩnh dịch sang tiếng Pháp với một cái giá cũng ghê đấy. Anh thử tưởng tượng xem em bán cho ai?” 

Tôi hoàn toàn vô thức về lĩnh vực này, mà làm sao tôi đoán được, một khi người hỏi mình hỏi chỉ để mà hỏi… Tôi nghĩ, anh ta hỏi thực chất là để muốn khẳng định câu chuyện anh sắp kể quan trọng đến mức nào mà thôi, rồi anh nói tiếp:

“Em bán cho gia đình ông Hoàng Quốc Việt (1905-1992)* đấy, anh biết ông Hoàng Quốc Việt chứ? Anh phải biết ông ấy chứ, Ủy viên Bộ Chính trị một thời nhá, Chủ tịch MTTQ VN này… Ôi, chuyện là thế này…

Anh Việt kể rõ ràng, mạch lạc:

Trước khi ông ấy mất, các con ông ấy hỏi bố, rằng bố có cần dặn gì không? Bố có nguyện vọng gì không? Ông ta bảo: Không, bố không cần gì, bố chỉ muốn khi nào bố chết, các con mua cho bố cuốn Truyện Kiều của cụ Vĩnh dịch sang tiếng Pháp, Nguyễn Văn Vĩnh ấy! Rồi đặt vào áo quan cho bố, thế thôi!

Rồi ngày ông ấy mất, cả nhà cuống cuồng làm những công việc cần làm cho người quá cố. Khâm liệm xong, đóng áo quan rồi, cả gia đình mới nhớ ra nguyện vọng của bố lúc còn sống. Các con ông đắn đo, bàn nhau, rằng bố chỉ có mỗi nguyện vọng như thế thôi… mà chúng con quên mất, họ thấy lòng dạ day dứt, và không thể bỏ qua việc này được. 

Hình như, các vị ấy thấm thía và nhận ra rằng, nguyện vọng của người quá cố như một lời nguyền, mà việc ấy có phải là quá khó đâu, thôi, đi tìm mua ngay, mang về đây, chúng mình lại mở ra cho vào để bố được toại nguyện.

Thật may, vì người con rể lớn của cụ Hoàng Quốc Việt là một kiểu người hay chữ, hiểu biết rộng nên khi được ai đó mách, ông ta lập tức tìm đến em. Hồi đó em bán giá cũng ghê đấy…”

Nghe đến đây, tôi thoáng nghĩ, câu chuyện anh Việt kể là muốn nhấn mạnh vào việc, Hoàng Quốc Việt là một cán bộ nòng cốt của Cách mạng Vô sản Việt Nam, ông thuộc tầng lớp những người chịu ảnh hưởng của nền giáo dục mới do người Pháp đem tới hồi đầu thế kỷ 20, vậy nên ông có những hiểu biết nhất định về Nguyễn Văn Vĩnh là thế nào? 

Nhưng nó đặc biệt, vì ông ấy đã không giấu sự sùng kính tài năng văn học của Nguyễn Văn Vĩnh, trong khi một bộ phận những đồng chí của ông đã không có thiện chí, thậm chí đã từng lên án, phủ nhận và chưa bao giờ muốn tôn vinh con người đó.

Anh Việt dẫn giải tiếp với tôi về tính bí hiểm của câu chuyện vẫn bằng giọng điệu thì thào, hình như anh hơi thận trọng do sự việc được kể đến đoạn nhạy cảm. 

“Khổ quá, sau đó em mới biết thêm rằng, ông con rể mua được sách đem về, cả nhà đều thấy nhẹ lòng, lập tức bật đinh, mở nắp áo quan ra để đặt bộ sách vào. Xong xuôi, lại đậy nắp và đóng đinh lại. 

Cả gia đình đang mừng vì đã thực hiện được di nguyện cuối cùng của bố, họ đang tỏ ra mãn nguyện, thì cơ quan an ninh bảo vệ đặc biệt của Nhà nước ập vào.

Không khí trong nhà căng thẳng, những nhân viên an ninh đã đề nghị gia đình cho biết: Tại sao lại bật nắp quan tài ra? Để làm gì? Gia đình đã giấu gì vào trong???”

Và rồi anh Việt lại tự phân trần với tôi, rằng:

“Em nghĩ vì ông Hoàng Quốc Việt là người quan trọng như thế, việc cơ quan cấp cao của Nhà nước người ta phải theo dõi là đúng. Đến như nhà mình có người mất, còn phải phân công nhau trực suốt đêm bên quan tài là gì!”

“Anh Bình biết không…?” Anh Việt tiếp tục kể:

“Khổ thế chứ, thế là gia đình lại phải bật nắp quan tài một lần nữa theo yêu cầu của cơ quan an ninh, để chứng minh việc đã đặt thêm bộ sách Truyện Kiều bên thi hài ông Hoàng Quốc Việt, và khẳng định, đó là ước nguyện của người quá cố, ngoài ra không có chuyện gì khác!”

Đến lúc này, anh Việt nhìn vào mắt tôi nói như để dạy bảo:

“Anh thấy cuốn Kiều mà cụ Vĩnh dịch sang tiếng Pháp có giá trị không? Làm sao mà một nhà cách mạng Cộng sản sừng sỏ như ông Hoàng Quốc Việt, mà mê cụ Vĩnh đến thế chứ?! Hoá ra, các vị ấy từng phê phán cụ Vĩnh thế này thế khác, chỉ là nói theo cảm tính thôi… Chứ còn trong đầu là kính trọng và mê cụ Vĩnh lắm. Càng nghĩ em càng thấy rùng mình vì cái chuyện này nó ghê quá….”.

Cuốn Truyện Kiều do Nguyễn Văn Vĩnh dịch sang tiếng Pháp và NXB  Alexandre de Rhodes ấn hành tại Hà Nội năm 1942 và 1943 – Là cuốn sách đã được Hoàng Quốc Việt đề nghị gia đình đưa cùng vào quan tài khi chết.

Nghe xong câu chuyện, tôi bàng hoàng vì nhiều lẽ. Đầu tiên, với tôi, là kẻ chỉ hiểu chút ít về Truyện Kiều khi mới là học sinh lớp 9 phổ thông. Ngày đó, tôi coi việc học Truyện Kiều trong môn văn cũng như các môn học khác, nghĩa là học để mà học, là học sinh thì phải học. Vả lại, các giờ học về Truyện Kiều chỉ gói gọn trong đôi ba tiết học trong chương trình của bộ môn văn, chứ thực tế không thấm tháp gì để nhận thức về giá trị và nội dung của tác phẩm vĩ đại đó. 

Đơn thuần, tôi chỉ thấy các câu thơ trong Truyện Kiều rất ấn tượng, vì nhiều câu chữ đọc gợi nhiều cảm xúc, giàu hàm ý kèm với âm hưởng và vần điệu của ngôn ngữ.

Việc cụ Vĩnh dịch Truyện Kiều ra tiếng Pháp, càng là một sự xa lạ đối với nhận thức của tôi, nói chính xác là do thiếu hiểu biết, nên tôi không có cảm nhận gì về giá trị của việc truyền bá văn hoá. Thậm chí, ngày đó tôi chỉ quan niệm đơn giản đến mức ngốc nghếc giống như ai đó thường nghĩ rằng, vì cụ giỏi tiếng Tây nên cụ dịch!

Như vậy, việc tôi được nghe câu chuyện ông Hoàng Quốc Việt, một người nổi danh trong lớp những người cộng sản đầu tiên ở VN, mà đắm đuối với Truyện Kiều, mà lại là Truyện Kiều bằng tiếng Pháp, là điều khác với những gì tôi từng được đọc về quan điểm cực đoan của đôi ba nhân sỹ nổi danh đương thời, cùng một số những người theo tư tưởng vô sản khác hồi những năm 30 được nêu trong các văn kiện chính trị. Họ đã từng gay gắt lên án, biến thành trào lưu, rằng việc phổ biến Truyện Kiềutrong dân chúng, là tiếp tay cho bọn Thực dân để truyền bá thứ văn hoá nô dịch, là đề cao lối sống Phong kiến, phục vụ tư tưởng Tư sản…

Rõ ràng việc ông Hoàng Quốc Việt yêu quý Truyện Kiều đến mức, mong muốn mang nó sang cả thế giới bên kia, mà phải là cuốn Kiều do cụ Vĩnh dịch sang Pháp văn, hẳn là một câu chuyện không dành cho những người thường như loại tôi hiểu.

Trên nữa, vì sao phải là bản dịch ra tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh? Mặc dù tôi cũng biết loáng thoáng rằng, trong quá khứ, không phải chỉ có cụ Vĩnh là người dịch Truyện Kiều ra Pháp văn.

Đời thực.

Khi tách cà phê đã gần cạn, anh ‘Việt sách’ châm thêm một điếu thuốc lá, rồi tiếp tục câu chuyện:

“Anh có tưởng tượng được không, một lần, em mua được một mớ sách cũ của một người dưới Nam Định. Về nhà giở ra, em thấy có 4 cái thư viết tay ký tên Nguyễn Văn Vĩnh. Em sướng điên, nhất là lại có cả mấy bức ảnh. Tự nhiên em lại được thêm mấy bức thư của cụ Vĩnh”.

Đến đây, nghĩ lại mới thấy sự ấu trĩ của cái thằng người ít học như tôi nó đáng thương đến thế nào? Hay tôi đã không ý thức được thế nào là cơ hội, nên đã để tuột mất cơ may nắm bắt những gì liên quan đến các bậc tiền nhân sinh thành ra mình, mà không phải chỉ là của gia tộc mình, mà còn là của nền văn hóa Việt. 

Cảm xúc của tôi khi nghe thông tin về bốn bức thư viết tay của cụ Vĩnh, chỉ là những con sóng gợn lăn tăn trong tâm can, cái thứ tình cảm hời hợt, ngớ ngẩn, ngoài việc chỉ biết thốt lên, thế à… ôi thế à….!

Có đến hàng tháng, sau câu chuyện của người bạn chuyên sưu tầm sách cũ, tôi mới thấy lòng dạ áy náy, băn khoăn, nuối tiếc về việc tại sao mình không nghĩ ngay đến chuyện xin mua lại, hoặc tối thiểu xin được xem những bức thư đó, xem cụ Vĩnh viết gì, viết từ bao giờ, và viết cho ai? Nó có liên quan gì tới gia tộc chúng tôi không? 

Liệu có phải vì ngoài chuyện tôi ngớ ngẩn, còn có cả chuyện vì keo kiệt, sợ phải tốn tiền nếu quyết định mua?! Ngày đó, tôi cũng đã từng kể lại với đôi ba người thân trong nhà cái sự việc này, nhưng cũng không có ai tỉnh táo hơn để bảo ban tôi, khích lệ tôi cần có quyết định nào đó, để sau này khỏi ân hận.

Ngẫm lại câu chuyện này, tôi mới thấu hiểu vì sao cụ Vĩnh đã dịch cuốn tiểu thuyết “Miếng da lừa”của Honoré de Balzac, từ lúc người Việt Nam còn chưa có ý thức gì rõ ràng về nền văn học phương Tây, về văn minh phương Tây, về những triết lý sâu sắc về nhân cách văn hóa của một thằng người.

Nuối tiếc

Rồi một buổi sáng, tôi lại đến quán cà phê Mô Ka, nơi từng để lại cho tôi nhiều kỷ niệm. Tôi chào anh bạn sưu tầm sách cũ, rồi tôi sấn sổ hỏi anh:

“Này, Việt ơi, có lẽ tôi phải xin mua lại của anh mấy bức thư của cụ Vĩnh mà anh kể mấy bữa trước. Còn mấy cái ảnh mà anh nói, là ảnh của ai?”

Anh Việt trợn mắt hét lên:

“Ôi giời ơi, sao anh không nói, em đã bán rồi. Việc của em là cái gì cứ được giá là em bán! Chán thế! Sao anh không nói luôn hôm đó?”.

Tôi lặng người, vì tiếc và thật sự nhận thấy mình đã ngu, ngu quá rồi! Tôi vỡ lẽ ra một điều, vậy là trong thiên hạ, người ta quan tâm đến cụ Vĩnh nhiều hơn mình, người ta tầm nã những gì của cụ Vĩnh ráo riết hơn mình. Điều này chứng minh một sự thật, rằng Nguyễn Văn Vĩnh là ai? Đồng thời cũng bộc lộ sự vô tâm và vô ý thức của tôi, và có lẽ cũng không phải chỉ riêng tôi!

Tôi hỏi tiếp như để vớt vát:

“Xin lỗi, thế anh đã bán cho ai?”

Anh Việt kể luôn một cách hào hứng:

“Anh biết không, thằng mua ấy, nó là người nước ngoài, dân châu Á, mà trẻ thôi. Nhưng nó rất giỏi tiếng Việt. Nó đến tìm sách cũ và xem có gì thú vị thì nó mua. Lúc nó mở cuốn sách, cậu ấy thấy có mấy bức thư vì em vẫn kẹp trong cuốn sách đó, nó đọc một lúc, rồi hỏi em có bán mấy bức thư này không? Nếu bán thì giá bao nhiêu? 

Thấy nó có vẻ mê mẩn, em hỏi lại: “Ơ, thế ông cũng biết người này à?”. Nó chỉ nói: “Vâng!”. Em thấy thế, rồi em nói đại, vì em cũng không nghĩ được rằng nó quan tâm thật, và sẽ mua thật. Em quát 300 Đôla!

Anh có tin không, nó chẳng nói gì hết, nó lẳng lặng móc ví rút luôn 3 tờ. Kinh quá anh ạ, sao nó ‘máu’ thế chứ?!”

Tôi lại thấy buồn, buồn thật, vì tôi lơ mơ nhận thấy cái lý do xa xa để một người nước ngoài quyết định như vậy **. Tôi không còn biết nói gì nữa, đầu tôi bỗng trở nên rỗng tuếc, vì trước sự việc này, rõ ràng tôi thấy mình vô ý thức đến tận cùng rồi. 

Tôi châm một điếu thuốc lá, không phải vì muốn hút vào thời điểm đó, mà là để hòa trộn giữa cái cay cay của vị thuốc vào cái đắng về tinh thần ở một khoảnh khắc không thể quên được. Cái ‘đắng’ này sẽ còn theo tôi đến một ngày khi về với tổ tiên, theo ông bà, cha mẹ. 

Nhưng cũng từ đây, qua sự việc này, tôi bắt đầu ý thức được một cách nghiêm túc, rằng ông nội mình, Nguyễn Văn Vĩnh là gương mặt như thế nào trong đời sống lịch sử văn hóa xã hội và chính trị của đất nước này?! 

Tôi chỉ thấy mỉa mai vì khi gặp được những sự việc như vậy, bắt đầu có được chút tỉnh ngộ về nguồn gốc, tôi đã 50 tuổi, cái tuổi xưa kia ở nông thôn, người ta thường tổ chức lễ lên lão…. thành ‘thằng già’.

Hình như nhận thấy tôi thất vọng, anh bạn buôn sách cũ an ủi:

“Này, em sẽ tặng anh một thứ của cụ Vĩnh nhé! Hôm nào anh thấy thuận lợi, em mời vào nhà chơi. Anh sẽ thấy mê man các loại sách báo, nhiều cuốn hay lắm. Em theo đuổi việc này mấy chục năm rồi mà, từ hồi còn là công nhân.”

Sau cái buổi hụt hẫng khi nghe tin các bức thư viết tay của cụ Vĩnh đã được ‘xuất cảnh’, tôi bâng khuâng đến cả tháng. 

Lần tôi vào chơi nhà anh bạn buôn sách cũ đó mãi tận trong Cầu Giấy, anh đã tặng tôi cuốn Truyện ngụ ngôn La Phông Ten do cụ Vĩnh dịch, in ở Sài Gòn năm 1969. Cuốn sách này trong gia tộc của tôi cũng có người giữ được, nhưng không được đẹp như cuốn tôi được anh bạn chuyên sách cũ tặng. 

Những cuốn sách gây ấn tượng khi tôi đến thăm nhà anh Việt sách năm 2003

Cuốn sách thật thú vị, thật quý vì nó in cả lời tâm sự của người dịch, có cả tranh minh họa của họa sỹ Mạnh Quỳnh (1917-1991). Nhờ vậy, đọc lời tựa, tôi càng nhận thức được sâu hơn cái lý do vì sao Nguyễn Văn Vĩnh quyết định dịch sang tiếng Việt các câu truyện ngụ ngôn của La Phông Ten từ khi ông còn rất ít tuổi.

Vòng tròn khép kín.

Năm 2005, nhân 60 năm kỷ niệm CM tháng Tám, vợ chồng người em ruột tôi thông qua mối quan hệ với một số người bạn làm truyền thông, đặt vẽ bức tranh cuộc mít tinh ở Nhà Hát lớn Hà Nội ngày 17/8/1945, của Tổng Hội Viên chức Thủ đô mừng Hồng quân Liên Xô chiến thắng Phát Xít. 

Lý do vẽ lại sự kiện lịch sử trong bức tranh đó, bởi lẽ người mẹ của chúng tôi, là người đã thức suốt đêm ngày 16/8/45 để may cái lá cờ đỏ sao vàng khổ lớn đầu tiên trước cái thời điểm sinh ra nước VNDCCH, treo phủ kín mặt trước của Nhà Hát lớn khi tổ chức buổi mít tinh. 

Câu chuyện này, mãi đến năm 2000, anh chị em chúng tôi mới được biết thông qua cố nhà báo Trường Phước (1948-2006) của Đài VTV, do anh nhận ý kiến của ông Trần Lâm (1921-2011)***, chỉ đạo việc xây dựng nội dung cho chương trình cầu truyền hình chuyển giao thế kỷ giữa Hà Nội với thành phố HCM.

Khi đến gặp mẹ tôi để phỏng vấn và làm phóng sự, nhà báo Trường Phước giãi bày với tôi như thế này:

“Ông Trần Lâm nói với anh, cậu đến 43a Hàng Bài, gần rạp Tháng Tám, tìm một bà tên là Tý – Lê Thị Tý – Chính bà ấy là người may cái lá cờ đỏ sao vàng to nhất treo ở mặt trước Nhà Hát lớn hôm mít tinh 17/8/1945 đấy!”.

Sau sự kiện này, tôi và anh Trường Phước trở thành chỗ thân tình.

Rồi một hôm, tôi được người em trai của mình mời đến xưởng vẽ tranh, với mục đích để tôi biết một việc mà vợ chồng cậu ấy đang theo đuổi. Còn tôi nhận lời đến, chỉ đơn thuần vì tôn trọng lời đề nghị của em mình.

Việc vẽ bức tranh cuộc mít tinh ngày 17/8/1945 bằng chất liệu sơn dầu, được thực hiện tại xưởng vẽ nằm phía sau Cung Văn hóa Hữu nghị. Chỉ biết rằng, khi tôi đến, tôi đã được giới thiệu với một người đàn ông trong số những người có mặt ở đó, rằng đây là anh Thu, con rể cả của ông Hoàng Quốc Việt.

Bà Lê Thị Tý (đầu tiên bên phải) người may lá cờ khổ đại cho cuộc mít tinh ngày 17/8/1945 tại Quảng trường Nhà Hát lớn Hà Nội. Ảnh chụp với các bạn cựu học sinh trường Nữ sinh Đồng Khánh.

Cũng vì thiếu nhận thức về mục đích của việc vẽ tranh, lại không có kiến thức về hội hoạ, nên tôi cũng không biết nên nói chuyện gì với những người có mặt, nhưng khi nhắc đến Hoàng Quốc Việt, lập tức nội dung câu chuyện của người sưu tầm sách cũ với cuốn Truyện Kiều hiện lên trong đầu tôi.

Sau năm ba phút đi tới đi lui, khi tôi bước ra gần cửa ra vào, anh Thu nhìn tôi có vẻ như cười gượng và anh chủ động nói với tôi:

“Ôi, ra anh là anh của Lân Ngọc à? Này, anh có biết không, cả nhà tôi đến khổ sở về cái cuốn Truyện Kiều của cụ Vĩnh đấy….”.

Anh Thu vừa nói vừa lắc lắc cái đầu như một sự than vãn.

Chỉ một câu như vậy với tôi, có lẽ đã là quá đủ để tôi nhận ra câu chuyện của người bạn bán sách cũ kia là hoàn toàn thật. Tôi đắc chí khi nghĩ rằng, trước đây, nghe tâm sự của anh ‘Việt sách’ chỉ là nghe để mà nghe, vì tôi biết lấy cơ sở nào để kiểm chứng sự việc, và để xác minh nếu mình muốn?!

Tôi không định lợi dụng, đúng hơn là tôi đã không đủ ý thức để chủ trương đi sâu vào sự việc này, vì vậy, khi nghe anh Thu nói như than thở, thì tôi phải hiểu điều đó là không vô cớ, và hẳn là cái câu chuyện đau lòng hồi xưa ấy, cũng đã dằn vặt anh ta suốt một quãng đời dài. 

Nhưng tôi vốn là đứa nông cạn trong hiểu biết về quá khứ, và cũng tránh để xoáy vào cái nỗi đau của người khác, nên tôi đã không khai thác gì thêm, ngoài một câu phản hồi để tỏ ra rằng, mình cũng hiểu nội tình của sự viêc, và cũng có sự đồng cảm. Tôi nói với anh Thu với một thái độ kính trọng:

“Dạ, vâng! Tôi cũng được nghe kể về sự kiện này từ nhiều năm trước, liên quan đến đám tang của cụ Hoàng Quốc Việt”.

Anh Thu như không cần nghe thêm nữa những gì tôi đang định nói, anh bĩu môi ngước mắt về phía tôi và dài giọng:

“Đấy, ông thấy thế có khổ không? Người ta kiêng lắm đấy! Nghĩ lại mà thấy kinh, kinh quá..!”

Ơn Giời, vì vô tình, đôi khi có những sự việc chỉ thoảng qua trong cuộc sống, vậy mà nó bỗng trở thành dấu ấn, và nay câu chuyện đau lòng về một người có danh, liên quan đến cuộc sống văn hoá đã đi được một vòng khép kín, nó giúp tôi hoàn toàn yên tâm vào những gì người bạn sưu tầm sách đã kể từ nhiều năm trước.

Suy ngẫm.

Năm tháng trôi đi, cuộc sống đã đánh thức tôi, và nhắc tôi hãy mở to mắt ra mà nhìn  đời. Hãy đừng để bị ru ngủ, nhất là khi ‘vớ’ được dăm ba cái ‘bổng lộc’ xinh xinh của cuộc đời, đã ngỡ tưởng mình là nhất xóm, nhất làng, nhất là khi quy cái phần thưởng ấy ra bằng mấy tạ khoai, mấy yến thóc, rồi ngồi rung đùi bởi cho rằng mình tài, vì đã ‘ẵm’ được nhiều lộc lá hơn người… 

Rồi cũng từ đó, sống quay lưng với những điều ngang trái diễn ra trước mắt, với những bất công, thậm chí là cả sự độc ác với đồng loại, và với cả chính mình trong quá khứ, mà vẫn cứ lạnh tanh chép miệng một cách vô ý thức, còn buông câu nói cửa miệng của những kẻ sống ích kỷ, dấu đi sự hèn nhát nhưng ra điều ‘thận trọng’ rằng: ‘Tôi không nói chuyện chính trị! Ôi dào, chuyện ngày xưa ấy mà!’.

Năm 2006, trong hành trình thực hiện việc làm bộ phim tài liệu lịch sử về học giả Nguyễn Văn Vĩnh, tôi đã đặt lịch trình đến quay phim ở bảo tàng Nguyễn Du, thuộc xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Tôi nghĩ được đến trường đoạn này, chính là nhờ cái câu chuyện của gia đình ông Hoàng Quốc Việt với cuốn Truyện Kiều do cụ Vĩnh dịch sang tiếng Pháp.

Thật là một may mắn lớn, vì lần đi quay phim ấy, đúng vào lúc cơ quan quản lý văn hóa của Tỉnh Hà Tĩnh vừa cho nâng cấp gian trưng bày các tác phẩm Kiều của Nguyễn Du trong bảo tàng ở Tiên Điền, bao gồm cả các bản in đã được dịch ra một số ngoại ngữ và ấn hành qua các thời kỳ. Khách đến tham quan dễ dàng nhận thấy ngay tính quy mô và sự phong phú của phần trưng bày đặt ngay bên phải của gian chính trong bảo tàng. Việc này đã giúp khách tham quan nhận ra cái giá trị rộng lớn và lâu dài của một kiệt tác, cái ảnh hưởng trường tồn của Truyện Kiều, và cái tính ưu việt của Đại thi hào Nguyễn Du. 

Riêng những cuốn Kiều ghi người dịch là Nguyễn Văn Vĩnh có đến năm bản, với bản dịch đầu tiên từ chữ Nôm ra Quốc ngữ năm 1913, cho đến bản in trên báo hàng ngày được người hâm mộ thời xưa cắt ra đóng thành sách, và tất nhiên có cả bản dịch sang tiếng Pháp in năm 1942, nghĩa là 6 năm sau khi ông mất, người Pháp mới thấm thía cái tuyệt hảo của Truyện Kiều, và mới quyết định để Nhà Xuất bản Alexande de Roth phát hành.

Tôi khẳng định là mình đã may mắn bởi lẽ, nếu hôm nay, do nghe tôi kể về sự việc đau lòng của gia đình ông Hoàn Quốc Việt liên quan đến Truyện Kiều, đã phải mở và đóng lại áo quan đến ba lần chỉ vì một tác phẩm văn học, rồi ai đó, cũng vì lòng ngưỡng mộ, quyết tâm đi 350 km đến quê hương Tiên Điền để thể hiện sự ngưỡng mộ, sự yêu quý Truyện Kiều như ông Hoàng Quốc Việt, thì gian trưng bày đã không còn cái quy mô như tôi đã đưa vào bộ phim của mình.

Một góc tủ sách trưng bày các ấn bản Truyện Kiều tại bảo tàng Nguyễn Du. Ảnh do tác giả chụp năm 2006

Tôi đã liều hỏi thẳng những người có trách nhiệm của bảo tàng trong lần vào thăm sau này, khi nhìn thấy gian trưng bày ‘bị’ thu hẹp, và số lượng bản phẩm trưng bày còn lại rất ít, ‘Họ’ đã nói khẽ với tôi:

“Vâng, phải thu hẹp lại anh ạ, vì ở ‘Trên’ nói, không nhất thiết cứ phải để quy mô và đồ sộ như trước đây…!”

Tôi đã thấy thật là đáng trách vì cách nghĩ về sự quy mô đối với một Danh nhân Văn hóa Thế giới là Nguyễn Du, của những người nhân danh là kẻ có trách nhiệm. Họ quá biết rằng, đó là Đại Thi hào của nền văn hóa Việt Nam, và chắc hẳn họ cũng thầm biết, lý do vì sao họ đã hành xử như vậy với một Danh nhân…?! 

Kết.

Ngẫm ra, trong cuộc đời này, phàm những gì là có thật, là vĩ đại và có giá trị thực, theo cách này hay cách khác, bằng lúc này hay lúc khác, và với người này hay người khác, nó vẫn sẽ tồn tại bất chấp thời gian, bất chấp mọi mưu tính và thủ đoạn của những thế lực ám muội. Điều này đặc biệt đúng với câu nói một nhà chính trị lỗi lạc người Ấn Độ là Mahatma Gandhi: 

“Nền văn hóa của một quốc gia nằm trong trái tim và tâm hồn của nhân dân”.

Những giá trị bất hủ của văn hóa, là nền tảng cho việc hình thành nhân cách của một giống nòi, những điều mà nhân loại gọi là vĩnh hằng. 

Văn hóa, cũng chính là phép thử để đo cái giá trị của vật chất, cái thứ giá trị đã chôn vùi không biết bao nhiêu sự nghiệp của những kẻ phù du, những kẻ nhân danh quyền lực đã trở thành tín đồ của danh và lợi, mà nguyên nhân đơn giản, chỉ vì họ đã thiếu mất cái nền tảng văn hóa. 

Cảm ơn cuộc đời vì đã để tôi nghiệm thấy điều: Thức lâu mới biết đêm dài.   

NGUYỄN LÂN BÌNH.

Ghi chú:

* Hoàng Quốc Việt (1905-1992), tên thật là Hạ Bá Cang, sinh ở Bắc Ninh, là một chính khách, đảm nhiệm các vai trò Bí thư Tổng bộ Việt Minh, Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ.  Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam (1951-1956), Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao (1960), Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1977-1983), (BKTT mở)

** Người mua bốn bức thư là một người châu Á. Người kể câu chuyện này có nói rõ quốc tịch, xong đã lưu ý tôi đừng nói rộng ra với thiên hạ.

*** Trần Lâm (1921-2011), tên thật là Trần Quảng Vận, sinh ở Hải Dương. Năm 1977, ông làm Chủ nhiệm Ủy ban Phát thanh và Truyền hình Việt Nam.

Từ 1983 đến 1989, Trần Lâm làm phó chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam. (BKTT mở)

2 Responses

  1. Đối với tôi Trang Tân nam từ là một đóng góp quan trọng vào nền Văn hoá nước nhà; và Nguyễn Lân Bình xứng đáng với danh nghĩa Nhà nghiên cứu Văn hoá nghiêm túc và đặc sắc!

  2. Cảm ơn anh Nguyễn Lân Bình đã cung cấp tài liệu quý và đã chia sẻ nhiều tâm sự sâu sắc, chí tình, nhiều ưu tư về con người, văn hóa…
    Chúc anh cùng gia đình đón một Năm mới an lành, như ý, tiếp tục công việc của một “Nhà Nguyễn Văn Vĩnh học”. Anh xứng đáng với danh xưng ấy!

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  
July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  

Social Network