TÓM TẮT về dịch giả NGUYỄN VĂN VĨNH

Đôi lời giới thiệu về dịch giả được in ở phần đầu cuốn sách “Ba người ngự lâm pháo thủ”

Bộ sách Ba người ngự lâm pháo thủ

Nguyễn Văn Vĩnh sinh ngày 15/6/1882, trong một gia đình nông dân tại thôn Phượng Vũ, Phượng Dực, Thường Tín, phủ Hà Đông, nay là Phú Xuyên Hà Nội.

Vì nghèo khó, gia đình lên Hà Nội tìm kế sinh nhai khi ông lên 4 tuổi, và ở nhờ nhà một người thân tại số nhà 46 phố Hàng Giấy.

Khi 8 tuổi, Nguyễn Văn Vĩnh đi chăn bò thuê ngoài bãi sông Hồng, rồi cậu đã may mắn bỏ được việc chăn bò nhờ xin được chân ngồi kéo quạt mát cho một lớp học đào tạo thông ngôn (phiên dịch) của người Pháp, đóng tại đình Yên Phụ, gần hồ Trúc Bạch.

Nhờ việc ngồi kéo quạt, cậu bé Vĩnh mặc nhiên trở thành như một học viên. Ông giáo người Pháp D’Argence, đã ngạc nhiên khi chứng kiến sự hoà nhập giữa các học viên trong lớp (là lứa lớn tuổi hơn) với cậu bé kéo quạt, đặc biệt trong những cuộc tranh luận khi làm bài tập. D’Argence phát hiện và ấn tượng mạnh, khi nhận ra ‘cậu bé kéo quạt’ có khả năng khác thường, ông đã quyết định xin cấp trên để cậu được là học viên chính thức và không phải đóng học phí. Năm Nguyễn Văn Vĩnh 14 tuổi, khi thi tốt nghiệp, cậu đã đỗ đầu lớp (thủ khoa).

15 tuổi, Nguyễn Văn Vĩnh trở thành phiên dịch cho Toà sứ Lào Cai (1897), năm 16 tuổi cậu được chuyển về Toà sứ Hải Phòng.

Báo TIN VĂN xuất bản ở Hà Nội năm 1935, đã đăng bài phỏng vấn Nguyễn Văn Vĩnh về quá trình hình thành sự nghiệp dịch thuật của ông, trong đó, ông đã kể lại một ký ức lúc còn là thiếu niên, khi chứng kiến cuộc đối thoại giữa người thầy tiếng Hán của ông là Phan Hữu ĐHữu Đại, với viên Công sứ Kiến An, như thế này:

“Cụ chê cái chế độ chúng-dân đầu-phiếu, cho rằng dân phần đông còn ngu, để cho những người ngu trị nước thì nước yên làm sao được”.

“Mà ông phải biết rằng, thời bấy giờ các nhà Nho ta đã bắt đầu đọc những sách của Khang hữu-Vi và Lương khải-Siêu (1) mà họ gọi là ‘Tân thư’ và đã nhiễm những tư-tưởng dân-quyền rồi đấy…. Tuy vậy cụ thích đọc lịch-sử nước Pháp ở ngay chữ Pháp diễn nôm ra”.

Nguyễn Văn Vĩnh giãi bày tiếp:

“Chiều ý cụ, tôi liền dịch một quyển Pháp-sử (2) ra quốc-ngữ để đọc cho cụ nghe. Cái ý-kiến dịch sách tây của tôi nảy ra từ đó, nhất là từ năm 1899 và 1900, khi mới có 17, 18 tuổi tôi cả gan dịch Contrat social của J.J. Rousseau và Esprit dé lois của Montesquieu (3) được ông Nguyễn dực Văn, ký-lục, bạn đồng tòa của tôi ở Bắc-Ninh khuyến-khích”.

Từ đây, định mệnh đã dắt Nguyễn Văn Vĩnh đi trên con đường ngôn ngữ và dịch thuật văn hoá đến hết cuộc đời mình.

Nguyễn Văn Tố (1889-1947), nhân sĩ nổi tiếng về nghiên cứu lịch sử Việt Nam, đã viết nhận định về sự nghiệp Nguyễn Văn Vĩnh, đăng trên tạp chí tiếng Pháp Bulletin de la Société D’enseignemet Mutuel du Tonkin xuất bản ở Hà Nội năm 1936 (4),đã giúp chúng ta xâu chuỗi các sự kiện quá khứ để hiểu rõ điều Nguyễn Văn Vĩnh tâm sự với báo TIN VĂN là hoàn toàn thật, Nguyễn Văn Tố dẫn giải:

“Cũng như đối với Molière, đồng nghiệp Nguyễn Văn Vĩnh của chúng ta có thiện cảm rõ rệt đối với Rousseau, người đã được ông dịch một vài trang tiêu biểu nhất…”

Vậy điều gì đã đẩy Nguyễn Văn Vĩnh từ chỗ khởi sự việc dịch các tác phẩm triết học kinh điển của nhân loại, đến chỗ lựa chọn dịch các tác phẩm nổi tiếng trong lĩnh vực văn học?

Trong bản Đầu Pháp Chính phủ thư của Phan Châu Trinh (1872-1926) gửi cho Toàn quyền Đông Dương năm 1906, ông đã đau đớn xác nhận tình cảnh của đất nước và người dân An Nam ngày đó:

“Suốt cả thành thị cho đến hương thôn, đứa gian giảo thì như ma, như quỷ, lừa gạt, bóc lột, cái gì mà chẳng dám làm; đứa hèn yếu thì như lợn, như bò, giẫm cổ, đè đầu, cũng không dám ho he một tiếng. Cả mấy mươi triệu người như một đàn ruồi lũ kiến, không còn có chút nhân cách nào….

Nguyễn Văn Vĩnh đã cảm nhận thấu đáo những nỗi thất vọng sâu sắc của Phan Châu Trinh về nội tình đất nước, về bản lĩnh của một dân tộc khi chính ông là người đã nhận dịch toàn bộ văn bản này từ chữ Hán sang tiếng Pháp để gửi tới cho Chính phủ Bảo hộ.

Nhận thức đầy đủ về bối cảnh của một đất nước lạc hậu và tăm tối khi nhìn về tương lai, Nguyễn Văn Vĩnh còn nhận ra sự thiếu hụt nghiêm trọng khả năng tiếp thu những tư tưởng tiến bộ của nhân loại, khi người dân An Nam chưa có một thứ chữ viết riêng và vẫn phải dùng chữ Hán, Nôm là thứ chữ vay mượn, thì việc ông có ra công chuyển tải những tinh hoa tư tưởng, trí tuệ của các bậc vĩ nhân, cũng thật khó để đến được tới những người bình thường.

Nguyễn Văn Vĩnh đã dừng việc dịch sách khoa học triết học, ông lao vào cuộc cách mạng hoàn thiện chữ viết tiếng Việt dùng chữ cái La Tinh để nó sớm trở thành Quốc ngữ, trở thành thứ phương tiện chuyên chở kiến thức tới mọi con dân nước Việt. Năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục ra đời vì mục đích này!

Vẫn Nguyễn Văn Tố, ông từng cắt nghĩa về ảnh hưởng của văn học Pháp tiến bộ như sau:

“Phải chăng với chúng ta, nền văn học Pháp có giá trị trước hết là ở chỗ nó tạo ra mối liên hệ giữa tinh thần Pháp với tinh thần Nam thông qua những bài học về tính chừng mực và tính thị hiếu, thông qua những khoái cảm tuyệt trần, nó mang lại cho con người sự tinh tế, với cái sứ mạng đẹp đẽ nhất, được mong mỏi, khát khao nhờ một người bạn văn chương, và hẳn sẽ là tác giả”.

Có lẽ, Tạo hoá đã chọn Nguyễn Văn Vĩnh để làm cái công việc cầu nối giữa phương Tây với phương Đông trong văn hoá tư tưởng (ông còn là kẻ dịch thành công nhất cuốn Truyện Kiều của Nguyễn Du sang tiếng Pháp). Ông những mong, người Việt sớm thống nhất dùng một thứ chữ viết của riêng, đặc biệt là Vương triều Nhà Nguyễn chấp nhận lấy chữ Quốc ngữ thay thế chữ Hán và chữ Nôm, xây dựng một nền giáo dục mới, có vậy người dân mới dễ dàng tiếp cận những tư duy tiến bộ của nhân loại.

Vẫn với báo TIN VĂN, Nguyễn Văn Vĩnh đã tự xác định:

“Điều ấy phải để tùy ý những người dịch, vì những người đã có thể dịch được, tất học-thức đã giộng, dân An-nam đương cần học gì tất cũng đã biết, bây giờ chắc hẳn những điều cao-kiến lắm, dân mình xưa nay trí khôn chỉ là là mặt đất, cũng chưa với đến được…”

Ông khẳng định:

“Chỉ có đạo đức học mới cho phép con người thực hiện được những điều tốt đẹp bằng cách chỉ ra cho nó rằng, làm điều đó là phù hợp với cái tốt đẹp mang tính chất đạo lý. Bắt chước theo các triết gia người Pháp, chúng ta cần đề ra câu hỏi đó, câu hỏi khiến họ trằn trọc ngày đêm…”

Nguyễn Văn Tố đánh giá:

“Sứ mệnh này Nguyễn Văn Vĩnh không chỉ thực hiện được trong vai trò biên tập viên và dịch giả của những áng văn chương tiếng Pháp được ông hoàn thành với một uy tín càng ngày càng tăng cao…

Tháng 9 năm 2021, chuyên san của NXB Hội Nhà văn Việt Nam Viết và Đọc – Chuyên đề mùa Thu, tác giả Phan Tường Đan đã viết bài về quan điểm dịch thuật của Nguyễn Văn Vĩnh, có đoạn:

“Nguyễn Văn Vĩnh đã bỏ công dịch nhiều tác phẩm đồ sộ của văn chương phương Tây sang chữ quốc ngữ để người Việt Nam có thể đọc, thưởng thức những giá trị kinh điển, đẹp đẽ của văn hóa nhân loại. Có thể kể đến bộ tiểu thuyết Những người khốn khổ của Victor Hugo (mà Nguyễn Văn Vĩnh dịch là Những kẻ khốn nạn) tổng cộng 48 cuốn đóng thành 4 tập dày hơn 5000 trang do Trung Bắc tân văn lần lượt xuất bản trong 4 năm, từ 1925 đến 1928; Truyện ‘Ba người ngự lâm pháo thủ’ của Alexandre Dumas 4 tập hơn 1200 trang do Trung Bắc tân văn in năm 1927…”

Alexandre Dumas cha (1802-1870) người có một sự nghiệp văn chương đồ sộ, được cả thế giới hâm mộ. Ông để lại khoảng 250 tác phẩm, trong đó có 100 tiểu thuyết. Nhìn lại khối di sản đó, ta có thể biết phần nào tầm vóc của tác giả và có thể yên tâm, rằng mình sẽ được đọc một cuốn tiểu thuyết hấp dẫn, nếu như không nói nó thuộc hàng đỉnh cao là Ba Người lính Ngự LâmLes Trois Mousquetaires.

Vậy là phần nào chúng ta đã hình dung được những lý do đưa Nguyễn Văn Vĩnh đến việc lựa chọn dịch tác phẩm Ba Người lính Ngự Lâm sang tiếng Việt!

Dưới con mắt của Nguyễn Văn Vĩnh, Ba Người lính Ngự Lâm đã phơi bày rất rõ, sự tốt xấu bên ngoài luôn tồn tại, cái tốt xấu bên trong mỗi con người cũng không thể che giấu, cả hai điều ấy luôn tìm cách để chiếm ưu thế, mà thực chất nó chính là phần ‘con’, và phần ‘người’ ở mỗi một cá thể.

Nhờ một lòng sống theo lẽ phải, biết răn sửa chính mình, kìm chế lạc thú, nên ba chàng ngự lâm đã hóa giải được những tai ương, và được hưởng vinh quang trong đời. Mọi ý đồ giáo dục trong tác phẩm đã được viết thành những câu chuyện rõ ràng, chi tiết, thông qua cuộc đời của những chàng lính ngự lâm.

Mô tả về cuộc chiến thiện ác giữa những người lính và phe bóng tối, nhưng tác giả cũng đồng thời mô tả cuộc chiến nội tâm bên trong mỗi con người. Nguyễn Văn Vĩnh lựa chọn dịch tác phẩm của A. Dumas vì thế!

Đã trải qua cả trăm năm tính từ ngày lần đầu tiên người Việt được biết các tác phẩm văn học kinh điển của nhân loại nhờ được in bằng chữ Quốc ngữ, nhưng ngày đó, chúng ta chưa có nền văn học chữ Quốc ngữ, mới càng thấy cái chữ viết tiếng Việt của chúng ta nó non trẻ đến mức nào, khi so sánh với hôm nay, với nhiều loại chữ viết khác của nhân loại.

Thật tuyệt vời, vì ngày đó, hầu hết các tác phẩm dịch sang chữ Quốc ngữ của Nguyễn Văn Vĩnh luôn cuốn hút được người đọc từ mọi tầng lớp trong xã hội, nó mang đến nỗi khao khát khi nghĩ về tương lai, về một xã hội cần phải được phát triển bởi lòng nhân ái, bởi tri thức, và bởi một tương lai tốt đẹp cho giống nòi.

NGUYỄN LÂN BÌNH

Chủ nhiệm trang tin (website) Tannamtu.com

Chuyên đề về học giả Nguyễn Văn Vĩnh và gia đình.

Hà Nội, 10/5/202

2 Responses

  1. Bình ơi, Bình đã viết được một bài xứng đáng tầm của một nhà nghiên cứu văn học

  2. Quá sức hay! Cảm ơn anh Nguyễn Lân Bình, cháu nội của học giả, nhà phát triển chữ Quốc Ngữ Việt Nam, nhà dịch thuật tiên phong, nhà yêu nước…đã cho tôi được xem một khía cạnh thú vị khác của người ông nội vĩ đại của anh và của cả chúng ta!

    Qua câu chuyện ông đã trở thành dịch giả như thế nào, chúng ta có thể thấy điều gì? Tôi thích nhất đoạn sau đây: “Khi 8 tuổi, Nguyễn Văn Vĩnh đi chăn bò thuê ngoài bãi sông Hồng, rồi cậu đã may mắn bỏ được việc chăn bò nhờ xin được chân ngồi kéo quạt mát cho một lớp học đào tạo thông ngôn (phiên dịch) của người Pháp, đóng tại đình Yên Phụ, gần hồ Trúc Bạch.

    Nhờ việc ngồi kéo quạt, cậu bé Vĩnh mặc nhiên trở thành như một học viên. Ông giáo người Pháp D’Argence, đã ngạc nhiên khi chứng kiến sự hoà nhập giữa các học viên trong lớp (là lứa lớn tuổi hơn) với cậu bé kéo quạt, đặc biệt trong những cuộc tranh luận khi làm bài tập. D’Argence phát hiện và ấn tượng mạnh, khi nhận ra ‘cậu bé kéo quạt’ có khả năng khác thường, ông đã quyết định xin cấp trên để cậu được là học viên chính thức và không phải đóng học phí. Năm Nguyễn Văn Vĩnh 14 tuổi, khi thi tốt nghiệp, cậu đã đỗ đầu lớp (thủ khoa).”

    Câu chuyện này có thật chứ không phải như chuyện về mấy người học trò nào đó bắt đom đóm bỏ vào lọ thủy tinh để thay đèn ngồi học đã được báo chí Việt Nam truyền tụng gần đây, có vẻ như nhại theo một chuyện cổ tích.

    Tôi thích truyện này vì nó là sự thực, vì nó cho chúng ta thấy một xã hội thực dân nhưng nhân bản, với một người thầy “thực dân” nhưng đầy tính nhân văn, nhân đạo, biết để tâm đến một đứa bé nghèo khó, một tên kéo quạt cho lớp học toàn con em của giai cấp thống trị, giàu có, không phải là học trò và cũng không có tư cách để làm học trò. Nhưng không phải chỉ có người thầy, các học sinh lớn tuổi khác trong lớp cũng đáng yêu, đáng kính vì họ công nhận một đứa bé không những “hạ lưu” mà còn kém tuổi hơn mình chỉ vì em thông minh và đã chứng tỏ tài năng của mình, chứ không ghen tỵ, khinh miệt để tẩy chay em! Ôi, một thời đại quá sức tuyệt vời!

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  
July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  

Social Network