Một lối dịch hiện đại qua một số dịch phẩm thơ La Fontaine của NGUYỄN VĂN VĨNH – Phần kết

                                         NGUYỄN THỊ THU NGUYÊN

                Th.s, Giảng viên khoa Việt Nam học, trường ĐH Sư Phạm Hà Nội

Phần tiếp theo và hết

  1. Con Ve và con Kiến (La Cigale et la Fourmi)

Sáng tạo trước hết của bài dịch này là tạo ra một quan hệ rất Việt Nam của hai nhân vật Ve và Kiến: trong nguyên bản, Ve và Kiến đều là giống cái (la Cigale et la Fourmi), sang dịch phẩm của Nguyễn Văn Vĩnh, Ve trở thành một anh chàng lông bông chỉ biết ca hát suốt ngày, khi đi vay nợ Kiến thì:

Vác miệng chịu khúm núm

Sang chị Kiến hàng xóm,

Xin cùng chị cho vay,

Dăm ba hạt qua ngày.

“Từ nay sang tháng hạ,

Em lại xin đem trả.

Trước thu, thề Đất Giời!

Xin đủ cả vốn lời”.

Kiến trở thành bà chủ đầy uy quyền, hỏi những câu rất khó chịu: “Nắng ráo chú làm gì?” (mà không làm việc?), “..Xưa chú hát!/ Nay thử múa coi đây!” (mà cũng vẫn không cho vay!).

Hai nhân vật này không còn là hai con vật nữa mà cho ta cảm giác về hai hạng người không hiếm gặp trong xã hội (mà lại là xã hội Việt Nam hẳn hoi): anh Ve nghèo khó vì không biết lo toan, và bà Kiến thì biết sẻn so lo lắng trong đời sống nên có của ăn của để. Cách xưng hô “Chị–em” đầy nhẫn nhịn, hay cách xưng hô “tôi–chú” đầy trịnh thượng, kẻ cả, cũng góp phần tạo đặc sắc cho tính cách nhân vật và kết cấu câu chuyện.

Một sáng tạo nữa của Nguyễn Văn Vĩnh trong khi dịch bài ngụ ngôn này là việc khắc họa đậm nét hơn tâm lí, tâm trạng của các nhân vật. Ví dụ: ngay mở đầu bài thơ, trong nguyên bản chỉ khắc họa một hoàn cảnh thật khách quan: Se trouva fort dépourvue/ Quand la bise fut venue (Gia cảnh nhà mình chẳng còn gì/ khi gió bấc thổi tới), nhưng trong bản dịch, Nguyễn Văn Vĩnh diễn đạt lại bằng một hoàn cảnh đầy tâm trạng: Nguồn cơn thật bối rối. Từ “nguồn cơn”, theo Paulus Huỳnh Tịnh Của, có nghĩa là “cớ sự” (Chẳng biết nguồn cơn nào = Chẳng biết cớ sự ra sao), còn chữ “bối rối” mang lại một cảm giác bất an của tâm trạng, một sự lúng túng trong hành động…[1]

Cái thái độ “khúm núm” của Ve không hề có trong nguyên bản:

Elle alla crier famine/ Chez la Fourmi sa voisine,/ La priant de lui prêter/ Quelque grain pour subsister/ Jusqu’à la saison nouvelle./ Je vous paierai, lui dit-elle,/ Avant l’août, foi d’animal,/ Intérêt et principal

(Nó than đói/ Sang nhà chị Kiến hàng xóm,/ Nó xin vay/ Dăm ba hạt thóc hạt gạo để sống qua ngày/ Cho đến mùa sau/ “Xin hãy cho tôi vay – nó cất lời,/ Trước tháng Tám, (xin thề) bằng danh dự một con vật,/ Tôi xin trả đủ cả vốn lẫn lãi”)

Dịch phẩm cũng đã chuyển đổi “văn hóa” rất khéo:

“Sang chị Kiến hàng xóm, / Xin cùng chị cho vay, / Dăm ba hạt qua ngày. / “Từ nay sang tháng hạ, / Em lại xin đem trả. / Trước thu, thề Đất Giời! / Xin đủ cả vốn lời“.

Như ta đã thấy, trong lời của Ve, “foi d’animal”, tức “danh dự trong lời thề của một con vật” được dịch giả chuyển thành lời thề của con người, mà cũng lại là của người Việt Nam, không “thề có Chúa” mà “thề Đất Trời”!

Bài ngụ ngôn tiếng Việt đã mang lại một sự gần gũi, không thấy gợn lên sự cách biệt văn hóa giữa lời lẽ của La Fontaine và lời lẽ thơ ca dân gian Việt Nam, nhưng vẫn duy trì được sức sống hài hước đương đại cho những nhân vật trong những câu chuyện ngụ ngôn…

Câu chuyện Hội Đồng Chuột với tranh vẽ minh họa của họa sĩ Mạnh quỳnh, được in trong cuốn Truyện Ngụ Ngôn do Nguyễn Văn Vĩnh dịch do Nhà Xuất Bản Cảo Thơm phát hành năm 1970 tại Sài Gòn
  • Hội đồng Chuột (Conseil tenu par les Rats)

Bài ngụ ngôn được dịch hết sức linh hoạt, đầy ý thức phản ánh tình trạng xã hội Việt Nam đương thời (và không chỉ của Việt Nam) qua một sự kiện phản ánh mâu thuẫn ngàn đời của loài vật: cuộc họp của Hội đồng Chuột tìm giải pháp chống Mèo.  

Có thể nhận thấy lối dịch rất tiêu biểu (và chứa đựng quan niệm dịch thuật của Nguyễn Văn Vĩnh): không câu nệ việc lược bỏ một vài chi tiết, chữ nghĩa, mà điều quan trọng là làm sao dịch được cái tinh thần của bài ngụ ngôn. Ông đã rất có ý thức này khi lược bỏ những yếu tố dài dòng của nguyên bản, để tập trung vào khắc họa nhân vật và diễn biến chính của câu chuyện:

“Un Chat, nommé Rodiladus / Faisait de Rats telle déconfiture / Que l’on n’en voyait presque plus,/ Tant il en avait mis dedans la sépulture./ Le peu qu’il en restait, n’osant quitter son trou, / Ne trouvait à manger que le quart de son soûl; / Et Rodilard passait, chez la gent misérable, / Non pour un Chat, mais pour un diable…”

(“Có một con mèo, tên là Rodilardus, / Đã làm cho họ nhà chuột tan hoang,/ Đến nỗi chẳng còn con nào, vì có con nào con nấy đều chui vào mồ cả / Còn sót được con nào thì đều không dám thò ra khỏi lỗ,/ Và chỉ kiếm được cái ăn lửng dạ độ một phần tư. / Và đối với đám cư dân khốn khổ ấy,/ Thì mèo ta không còn là mèo, mà là một con quỷ”.

        Nguyễn Văn Vĩnh đã “gói” lại kiểu kể chuyện ấy bằng vài ba cụm từ thâu tóm được thần thái của nhân vật và bối cảnh câu chuyện: mèo thì “dữ dội lạ thường”, bắt chuột thì “long lở hầm hang”, làm cho lũ chuột “sạch quang trong ngoài”, chỉ còn “một hai chú lỏi” lúc nào cũng “đói họng gang”…

Những chi tiết cụ thể, tỉ mỉ của câu chuyện trong cuộc họp nhà Chuột cũng được lược bớt, để khắc họa rõ hơn, ấn tượng hơn về diễn biến và tính cách của từng con chuột tham gia cuộc họp:

Chú chuột già ra bàn ngay trước: / – Liệu mau mau trong bước hiểm-nghèo, / Đem chuông mà buộc cổ mèo, / Để cho khi hắn leo trèo tìm ta, / Leng-keng nghe hiệu là ta chạy,/ Ai cũng khen mà lạy Cụ-Trùm / Duy còn một việc đeo chuông, / Nghe như hơi khó tìm phương thi-hành / Hỏi lũ chuột, thì anh từ-cáo; / Anh lại rằng:   – Đây lão dại gì? / Đã đành nơi chết ai đi. / Ngẩn-ngơ một lát rồi thì hội tan.

Nguyễn Văn Vĩnh đã lược bớt một số chi tiết của đoạn này như chi tiết mô tả “chuột già”: “bậc cao niên nhất trong nhà chuột – một người vô cùng thận trọng”, hay một câu nói của chuột “Tôi chỉ còn biết có mỗi cách ấy thôi”. Hay lời tường thuật: “Ai cũng đồng ý với vị trưởng lão rằng/ Đó là điều không gì khôn ngoan hơn, giá trị hơn” (Chacun fut de l’avis de Monsieur le Doyen/ Chose ne leur parut à tous plus salutaire) cũng chỉ được tóm lại bằng một ý: “Ai cũng khen mà lạy Cụ-Trùm”. Chữ “lạy” và nhân vật “Cụ-Trùm” đã mang lại hình ảnh của một “người quen” trong những cuộc họp của hội đồng làng xã Việt Nam đương thời, giúp câu chuyện có sức gợi liên tưởng mạnh hơn. 

Nguyễn Văn Vĩnh không chỉ “bớt” mà còn “thêm” để rõ ý La Fontaine: Trong nguyên bản chỉ có một câu: “La difficulté fut d’attacher le grelot” (Điều khó khăn là chuyện đeo cái chuông), ông diễn đạt thành hai câu: “Duy còn một việc đeo chuông, / Nghe như hơi khó tìm phương thi-hành”.

        Chuyện xích mích giữa Mèo và Chuột, chuyện “đeo chuông cổ mèo” vốn không xa lạ gì với những “Đám cưới chuột” của dòng tranh dân gian Đông Hồ, nhưng phải nói rằng, đối với bản dịch này, điều thành công nhất của Nguyễn Văn Vĩnh chính là tạo ra được nét “humour” (hài hước) lẫn với nỗi niềm u uất, bất bình, chán nản vốn không thể có ở một tác phẩm văn học dân gian.

Trước hết, nét hài hước thể hiện ngay trong cách dịch tên của nhân vật: trong nguyên tác, tên con mèo “sát chuột” kia là Rodilardus, hay Rodilard, đuôi “lard” có nghĩa là mỡ, béo, và âm “Rodi” gợi cho người ta nghĩ đến những nhân vật văn hóa như Rodin, Rodrige…, để rồi đến Nguyễn Văn Vĩnh, liên tưởng này được sáng tạo thành một cái tên tưởng là sang trọng, song lại vô cùng hóm hỉnh: anh Trạng-Mỡ!

Anh chàng Trạng Mỡ này là một con vật có tài, và còn là một tay mê gái. Nguyễn Văn Vĩnh đã thêm một nét hóm hỉnh khi dịch “Le galand alla chercher femme” (Anh chàng hào hoa đi tìm gái) thành “tiên-sinh chạy gái”. Dịch giả đã rất tinh ý khi nhận thấy La Fontaine không dùng đúng từ “galant” (hào hoa) mà lại dùng “galand” (giống như cách sáng tạo Rodilardus hay Rodilard) để chuyển thành “tiên-sinh chạy gái”, khiến cho độc giả cảm nhận được trọn vẹn nét hài hước thú vị trong cả nguyên bản lẫn dịch phẩm.

Cuộc họp của họ nhà Chuột đã được dịch một cách thành công khi không ít lần độc giả bật cười khi đọc lại những câu chữ thường được dùng trong các hội nghị, hội thảo, gặp lại những nhân vật, những tính cách, những “trí tuệ” rất quen thuộc trong những cuộc đình đám. Đó là nhờ cái nhìn sắc sảo của Nguyễn Văn Vĩnh và cách diễn đạt thâm thúy với những từ ngữ chính trị mang màu sắc chính thống, phần nhiều là những từ Hán Việt trang trọng. Những từ ngữ này, những tính cách này bản thân nó không bao hàm sắc thái hóm hỉnh, cái làm nên sự hóm hỉnh đó là nghệ thuật nắm bắt tinh thần văn bản và đặt nó vào đúng hoàn cảnh.

Ví dụ: khi nói đến mục đích của cuộc họp, ông dùng một cụm từ Hán Việt đầy tính quốc gia trọng đại: “Họp nhau bàn việc kim-thời nguy-nan”. Cái việc “kim-thời nguy-nan” ấy trong nguyên bản chỉ đơn giản là “những nhu cầu hiện nay” (la nécessité présente); hay cách dùng những từ ngữ để “quan trọng hóa” vấn đề như: “bước hiểm nghèo, phương thi hành, cuộc luận bàn..”, đặc biệt là bốn câu kết luận dày đặc từ và cú pháp Hán Việt:

Nghị-luận còn dở-dang

Triều-đình đông nhan-nhản

Thi-hành lâm cục-trung

Bá-quan đà tận tán.

Phần bình luận này mô phỏng kết cấu truyện kể Trung Quốc, Việt Nam thời trung đại: giới thiệu nhân vật, miêu tả sự kiện, tường thuật diễn biến của truyện, kết luận bằng một lời bình (phổ biến là lời bình bằng thơ).

Phần bình luận này thể hiện rõ quan điểm Nguyễn Văn Vĩnh – một con người không bao giờ theo đuổi công việc gì chỉ là lí thuyết – đối với những cuộc hội họp vô bổ của một lũ người vô trách nhiệm, chỉ nghĩ đến được mất của bản thân. Sự hủ lậu của những cuộc họp, của một lớp người trong xã hội này đã khiến cho bài ngụ ngôn trong bản dịch được thêm một nét chua xót.

Tuy thế, nếu chỉ dùng từ Hán Việt thì Nguyễn Văn Vĩnh cũng sẽ không lột tả được hết bản chất thật sự của nhân vật, sự kiện và ý nghĩa bài ngụ ngôn này. Có thể nói, việc dùng từ Hán Việt đã mang lại một sự sang trọng bao nhiêu thì từ thuần Việt lại đưa đến một sự thật trần trụi về những ông nghị Chuột bấy nhiêu: dịch giả đã tung hứng những tính từ thuần Việt bên cạnh những danh từ Hán Việt một cách tự nhiên:

Té ra cuộc luận-bàn thực hão,

Có lạ gì bàn láo xưa nay!

Chẳng là việc chuột thế này:

Việc dân, việc nước cũng hay bàn xằng,

Những tính từ thuần Việt “hão”, “láo”, “xằng” đã đủ để lột tả bản chất của hội đồng nghị Chuột!

Hài hước mà vẫn chua xót, đó chính là cái “u-mua” đen mà sau này người ta vẫn tìm thấy trong văn học hiện đại, hậu hiện đại thế giới…

  • Già kén kẹn hom (La fille)

Bài ngụ ngôn kể câu chuyện về một cô gái trẻ, đẹp, kén chồng, nhưng càng kén chọn lại càng thất bại vì quá tự kiêu, để rồi năm tháng trôi qua, tuổi xuân đi mất, cuối cùng lại lấy một anh chồng tầm thường, dấm dớ.

Ngay cái tiêu đề “La fille” (Người con gái) mà dịch là “Già kén kẹn hom” đã cho thấy Nguyễn Văn Vĩnh không lệ thuộc câu chữ, mà chỉ cần dịch đúng “tinh thần”.

Đặc điểm nổi bật của bản dịch này là cô gái và câu chuyện của cô đã được “Việt hóa” một cách hoàn toàn gần gũi, dễ hiểu.

“La fille” dùng suốt bài theo nguyên bản được Việt hóa thành nhiều cách diễn đạt khác nhau: “cô ả”, “gái hợm”, “ả nọ”, “ả ta”, rồi còn tự xưng “gái này”.

Người mà cô muốn kén làm chồng cũng đầy đủ tiêu chuẩn “Việt Nam”: “Định kén chồng được gã giỏi trai” (nguyên bản chỉ là “Định tìm một người chồng”), “Có mầu, có vẻ, có tài” (Trong nguyên bản: “Trẻ, đẹp và có cốt cách, có cách cư xử đáng mến”), thêm nữa “Lại còn muốn con rồng cháu phượng” (nguyên bản: “gia đình gia thế”).

Cô gái trong nguyên bản đã chê bai những ứng viên tốt nhất như sau: “La belle les trouva trop chétifs de moitié./ “Quoi moi? Quoi ces gens-là?/ L’on radote, je pense;/ A moi les proposer! Hélas ils font pitié!/ Voyez un peu la belle espèce!”

(Cô thấy họ đều là những đối tượng vô cùng kém cỏi:/“Cái gì cơ, ta ấy à?/ Cái gì cơ, những người đó ấy à?/ Ta nghĩ, thế nào rồi thiên hạ cũng bàn tán;/ Đề nghị cho ta những tay ấy ư!/ Trời đất ơi trông bọn đàn ông ấy sao mà đáng thương!/ Hãy nhìn một chút cái giống đẹp đẽ ấy kìa!”. Cô ả trong bản dịch thì không giãy nảy bề ngoài lên như vậy, mà rất chanh chua, rất hợm mình, trong hai câu là gọn ý:

Nhưng ai cô cũng chê om:

Gớm người thế ấy dám dòm đến ta!

Sau những thành phần ưu tú ấy là những kẻ tầm thường nhất hạng (les médiocres gens) mà Nguyễn Văn Vĩnh dịch là “bọn xằng-xì”, đến xếp hàng. La Fontaine để cho “cô ta giễu họ” (Elle de se moquer), còn Nguyễn Văn Vĩnh diễn đạt một hình tượng rất Việt Nam: “môi cô ả tớn lên càng dữ”.

Cách nói “Tuổi tác đã đánh bại cô ta” (L’âge la fit déchoir) cũng được Việt hóa bằng câu thơ dịch đầy chất ca dao: “Cái già sồng-sộc thoắt trông thấy gần”, nghe như có âm hưởng câu ca: “Mỗi năm một tuổi như đuổi xuân đi/ Cái già sồng sộc nó thì theo sau”, “Chơi xuân kẻo hết xuân thì/ Cái già sồng sộc nó thì theo sau”… vừa gợi hình tượng, vừa gần gũi, thân thuộc với bạn đọc Việt Nam.

Khi nói đến sự tàn phá của thời gian lên khuôn mặt cô gái già, La Fontaine đã tả rất kĩ: “Sự muộn phiền đến với cô ta mỗi ngày/ Mất những tiếng cười, những trò chơi, và cả tình yêu nữa./ Sau đó, những nét trên mặt cô gây sốc và làm người ta thấy thất vọng/ Sau đó thì cô phải đắp điếm hàng trăm thứ lên mặt, / Nhưng chăm sóc bao nhiêu cũng không thể làm mất được những dấu hiệu xấu xí này/ Nhà đổ nát còn có thể chữa được/ Còn những hoang tàn của một gương mặt thì đâu có được cái thuận lợi như thế”; Nguyễn Văn Vĩnh chẳng cần dài dòng đến vậy, chọn ngay một chữ “duyên” để thâu tóm nỗi mất mát của cô ả:

Một ngày thấy một hết duyên, / Tóc-xanh môi thắm tự-nhiên phai dần. / Đem gương ngắm lần-thần thấy kém, / Lấy phấn son tô-điểm mãi vào./ Thì ra duyên hết từ bao, / Tháng ngày đã cướp lúc nào không hay. / Nhà kia đổ còn tay thợ chữa, / Má này nheo biết sửa làm sao?

Chữ “duyên” này đại diện cho quan niệm về vẻ đẹp, sự hấp dẫn của người phụ nữ Việt, “mất duyên” cũng là mất sự quyến rũ từ hình thức đến tâm hồn.

Hình ảnh “sự hoang tàn của khuôn mặt” được chuyển thành hình ảnh “má nheo” gợi nhớ rất sâu đến khuôn mặt người cung nữ già của “Cung oán ngâm khúc” (Nguyễn Gia Thiều): “Hòng khi động đến cửu trùng/ Giữ sao cho được má hồng như xưa”, và bất giác “Nghiêng bình phấn mốc mà nhồi má nheo”.

        Cảm thông với nỗi niềm của cô gái ở cuối bài, La Fontaine viết một tâm trạng sâu sắc: “Je ne sais quel désir le lui disait aussi/ Le désir peut loger chez une précieuse” (Tôi không biết có cái ước vọng nào cũng lên tiếng trong lòng cô ta, trong một con người cao ngạo cũng vẫn có thể có thèm thuồng). Ở chỗ này, bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh lạnh lùng hơn, một cách “đanh đá” rất Việt, giống như khi dịch nhan đề:

Hỏi đến lòng thì lòng cũng giục:

Hợm đến đâu cũng lúc ngứa nghề

Đôi điều kết luận

Khi tiếp xúc với các bản dịch văn chương, tham vọng Tín – Nhã – Đạt luôn luôn ám ảnh những dịch giả nghiêm túc và tài năng.

Hiểu một cách sơ sài, “Tín” là “đáng tin cậy”, là “không dịch sai”. Nhưng có khi dịch đúng từng chữ mà cả câu lại sai. Vì thế mà cần sự “nhã”, nghĩa là diễn đạt cái toàn khối cho hay lên. Và khi toàn bộ văn bản, không chỉ ở cấp độ từ và câu, mà ở cả cấp độ đoạn và toàn bài, khi đó sẽ tới tiêu chuẩn “đạt” – điều này được Nguyễn Văn Vĩnh diễn đạt thành “cái tinh thần”. Umberto Eco nói đến “một cái khác” những “vẫn là cái đó”, hẳn cũng không đi ra ngoài tiêu chí “cái tinh thần”.

Điều thần tình này ở Nguyễn Văn Vĩnh đã được giáo sư, nhà nghiên cứu văn học Dương Quảng Hàm nhận ra; giáo sư viết:

Văn ông bình thường, giản dị, có tính cách phổ thông, tuy có châm chước cú pháp của văn tây nhưng vẫn giữ được đặc tính văn ta. Ông lại chịu khó moi móc trong kho thành ngữ, tục ngữ của ta những từ ngữ màu mè để diễn đạt các ý tưởng (cả những ý tưởng mới của Âu Tây), thành ra đọc văn dịch của ông, tưởng chừng đọc văn nguyên tác bằng tiếng Nam vậy”.[2] 

Trong nghề dịch, còn có thành ngữ Dịch là Phản[3], muốn nói đến sự “phản bội” nguyên tác một cách vô tình hoặc cố ý.

Với Nguyễn Văn Vĩnh, và chỉ tạm thông qua ba thí dụ về ba bài ngụ ngôn La Fontaine, công việc dịch là một nghệ thuật mang một quan niệm khoa học ẩn ngầm và một tâm hồn Việt Nam còn cần được đào sâu rất nhiều.

Đó chính là ước vọng của kẻ hậu sinh viết bài tiểu luận này. (*)


[1]    Paulus Huỳnh Tịnh Của, Đại Nam quấc âm tự vị, Nhà xuất bản SaiGon, Imprimerie Rey, Curiol & Cie, Rue Catinat & d’Ormay, 1896, trang 114.

[2]    Nguyễn Duy Hiển, Bằng Phong, Luận đề về Đông Dương tạp chí, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1969, trang 61.

[3]    Tradutore – Traditore, thành ngữ tiếng Latin, có nghĩa là “Hỡi người dịch – anh là kẻ phản bội”.

(*)  Xin trân trọng cảm ơn thầy Phạm Toàn vì đã đọc và góp ý cho bản thảo này, và nhất là vì những bài ôn luyện tiếng Pháp cùng những tài liệu về dịch thuật thầy chia sẻ. Tác giả.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  
July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  

Social Network