CÂU CHUYỆN ĐẦU XUÂN – Mối tình thân của các con học giả Nguyễn Văn Vĩnh với nhà thơ Nguyễn Bính

Người anh

Người Man di Hiện đại Nguyễn Văn Vĩnh có ba người vợ và 15 người con, cộng cả người con nuôi mà vợ chồng ông luôn coi như con đẻ là Nguyễn Văn Thiện, tổng số là 16 người, gồm 5 người con gái và 11 người con trai.

Trong số 11 người con trai, người mang tên Nguyễn Nhược Pháp (1914-1938) và Nguyễn Kỳ (1918-2009) là hai người con khi Nguyễn Văn Vĩnh đặt tên, đều liên quan đặc biệt đến những diễn biến xã hội dương thời và tâm lý chính trị của ông.

Năm 1913, khi Nguyễn Văn Vĩnh đã thực sự thành danh do là Chủ bút tờ báo xuất bản bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên danh tiếng nhất Việt Nam, vì nó được in hoàn toàn bằng chữ Quốc ngữ, tờ Đông Dương Tạp Chí, cũng là lúc ông thất vọng và chính thức nhận ra những sai lầm của Chính phủ Bảo hộ do người Pháp Thực dân áp đặt vào sự cai trị đất nước An Nam.

Theo Nguyễn Văn Vĩnh, ở vào bối cảnh lịch sử những năm 1913-1914 lúc đó, việc người Pháp quyết tâm duy trì vai trò chính trị của Triều đình Huế, là trái ngược với chủ trương khai hoá văn minh và hiện đại hoá mà Toàn quyền Paul Doumer cam kết khi đến Việt Nam 1897-1902, điều này đã tác động mạnh đến tâm lý cải cách thoát Á mà Nguyễn Văn Vĩnh tha thiết muốn cùng người dân của đất nước An Nam theo đuổi. Sự mất đi Hoàng Hoa Thám, người lãnh đạo ‘Khởi nghĩa Yên Thế’, sự mất đi của Tôn Thất Thuyết, người lãnh đạo phong trào ‘Cần Vương’, sự lên ngôi của nhiều gương mặt trong Vương Triều Huế mà theo Nguyễn Văn Vĩnh, đa phần là những đối tượng không có khả năng để giúp cho dân tộc và đất nước phát triển, cùng với những chính sách đối phó của Chính phủ Pháp trước cuộc Chiến tranh Thế giới thứ Nhất, đặc biệt là việc chiêu mộ 93.000 ngàn người Đông Dương để đưa sang Pháp tham chiến, đã làm Nguyễn Văn Vĩnh thất vọng đến mức, khi có người con trai với người vợ hai, ông quyết định đặt tên con mang hình ảnh của một nước Pháp sai lầm trong đường lối chính trị, điều đẩy nước Pháp trở thành quốc gia ốm yếu đến mức suy nhược… Và tên người con trai đó là Nguyễn Nhược Pháp.

Nguyễn Nhược Pháp chụp năm 1924 tại ngôi nhà 13 phố Thuỵ Khuê Hà Nội khi tròn 10 tuổi.

Người em

Năm 1918, Nguyễn Văn Vĩnh với vai trò là nhân sĩ có danh ở cả ba miền đất nước, đã được mời tham dự trong buổi tiếp lễ tân do Toàn quyền Đông Dương Albert Pierre Sarraut (An-be Sa-rô, 1872-1962) tổ chức đón Vua Khải Định sau khi lên ngôi, từ Huế ra yết kiến Chính phủ Bảo hộ tại Thăng Long – Hà Nội.

Tại buổi lễ long trọng đó, Nguyễn Văn Vĩnh do tình huống, với tác phong Âu hoá, thay vì chắp tay cúi lạy, ông đã giơ tay bắt tay Khải Định (vì ngay trước đó, nhà Vua cũng vừa bắt tay ngài Toàn quyền), sự việc này đã đẩy ông vào tình thế của kẻ ‘phạm thượng’ (còn nặng hơn phạm tội theo quan niệm phong kiến) vì đã dám chạm vào ‘Long thể’ của Đức Vua, dẫn đến bản án ông phải bị chém đầu theo luật định của Triều đình Nhà Nguyễn.

Các quan luật hình của Triều đình đã hoàn thành ngay trong ngày bản án dành cho Nguyễn Văn Vĩnh, và đem dâng lên Nhà Vua để thông qua. Đọc xong nội dung trình tấu của các quan, Vua Khải Định đã buông một câu không ra phán xét, mà cũng không phải để bênh vực kẻ ‘phạm tội’: “Chuyện không có gì mà các ông làm ầm ĩ thế… Các ông thật là kỳ quặc!”(*)Câu nói của Vua Khải Định lập tức được lan truyền ra khắp thành Thăng Long ngay trong đêm, và được nhắn đến tai Nguyễn Văn Vĩnh như một lời chúc mừng vì ông đã thoát tội bị xử trảm!

Vốn là con người có tầm hiểu biết sâu rộng về nhiều lĩnh vực, cùng với những mối quan hệ rộng khắp trong hệ thống chính quyền, ông lại là kẻ đã được dân chúng quen mặt, Nguyễn Văn Vĩnh chỉ cười… Tháng Năm năm đó, bà Nguyễn Văn Vĩnh (Đinh Thị Tính) sinh hạ người con trai thứ năm (sau Nguyễn Hải 1901, Nguyễn Giang 1904, Nguyễn Dương 1913, Nguyễn Phổ 1917) và ông bà đã quyết định đặt tên người con trai này là Nguyễn Kỳ, để không quên cái bản án ‘kỳ quặc’ của nhóm quan lại trong Triều đình, vốn vẫn ác cảm với Nguyễn Văn Vĩnh từ trước đó, và đó là năm 1918.

Nguyễn Kỳ chụp năm 1937 tại Hà Nội

Nhân duyên Trời định

Năm 1942, khi Nguyễn Kỳ 24 tuổi và quyết định lập gia đình, ông cưới bà Nguyễn Thị Chung khi bà mới 18 tuổi. Bà Chung là người sinh ra ở xóm Đông, làng cổ Hoàng Mai, Hà Nội.

Trong các vị khách về dự đám cưới của cô Nguyễn Thị Chung năm ấy, người ta thấy xuất hiện một người đàn ông nhân danh là người khách đã từng ở trọ nhà cụ Bô Kinh bên xóm Đoài của làng Hoàng Mai.

Nhà cụ Bô Kinh tuy nằm bên phần đất của xóm Đoài, nhưng ở sát ngay cái giếng Bô có dòng nước trong và mát nhất trong số bẩy cái giếng của làng cổ Hoàng Mai. Người đàn ông đó từ Vụ Bản, Nam Định lên Hà Nội, ông cũng sinh ra năm 1918. Những ngày ở trọ tại nhà cụ Bô Kinh, người đàn ông đó sống trên một căn gác nhỏ có cửa sổ nhìn ngay ra cái giếng.

Ảnh giếng Bô làng cổ Hoàng Mai ngày nay. (nguồn internet)

Cái giếng cổ có tiếng này của làng có đường kính khoảng 30 m, thành giếng xây gạch cao khoảng 1,3 m, với 11 bậc đá xuống đến mặt giếng. Giếng Bô nằm đúng vị trí là ranh giới của hai xóm Đông và xóm Đoài, nhưng cũng chính nhờ thế, người đàn ông ngồi bên cửa sổ trong căn nhà thuộc địa phận xóm Đoài, vẫn thoải mái quan sát và ngắm nhìn toàn bộ khung cảnh mát mẻ của cái giếng cổ với hàng cây nhãn cổ thụ xen lẫn những bụi hoa dâm bụt. Thật hay, vì người đàn ông đó đã tự do một cách kín đáo, ngấm ngầm quan sát, ngắm nhìn những cô gái bên xóm Đông đến giếng gánh nước mỗi ngày.

Nhờ được chứng kiến nhiều lần, được chiêm ngưỡng cảnh các cô gái ra gánh nước bên bờ giếng, người đàn ông Nam Định đó đã phải lòng người con gái mà hôm nay ông về dự đám cưới nàng, đó là chính cô Nguyễn Thị Chung, vợ ông Nguyễn Kỳ, người con trai thứ năm của học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Người đàn ông Nam Định đó chính là nhà thơ Nguyễn Bính (1918-1966) nổi tiếng của nền văn học Việt Nam sau này, tác giả của tập thơ Lỡ Bước Sang Ngang!

Ông bà Nguyễn Kỳ cùng người con trai cả Nguyễn Lân Khôi chụp năm 1950 tại chiến khu

Câu chuyện 70 năm sau

Sau ngày cha mẹ tôi qua đời (Nguyễn Dực 1921-2000 – Em trai sát ông Nguyễn Kỳ – và bà Lê Thị Tý 1924-2001), hàng năm vào ngày giỗ, lần nào bác dâu Nguyễn Kỳ (bà Nguyễn Thị Chung) cũng đều đến thắp hương với một tâm trạng sâu lắng.

Trong suốt gần chục năm liền, chứng kiến những nỗ lực không ngừng của tôi và những người anh em họ của mình trên con đường phục dựng lại chân dung thực của học giả Nguyễn Văn Vĩnh và gia tộc, vợ chồng bác Nguyễn Kỳ đã không dấu thái độ hài lòng và tin tưởng vào những phương thức tôi thực hiện, vì hai bác là những người thấm thía hơn ai hết bởi hơn hai mươi năm liền, hai bác đã tận tuỵ cùng với người anh trai là Nguyễn Phổ tìm tòi, tích luỹ và tổng hợp những tư liệu liên quan tới sự nghiệp của cha mình, học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Hai bác Nguyễn Kỳ cũng đã từng xác định, đề tài khó khăn này ngày sẽ càng có ý nghĩa và không dễ để đạt đến những giá trị cuối cùng.

Năm 2008, biết ơn cái duyên, cái phận của kiếp người, tôi đã được một gương mặt tin cậy là nhà văn, nhà thơ Nguyễn Giang, vì chứng kiến những hoạt động gây ấn tượng của tôi trong đề tài học giả Nguyễn Văn Vĩnh và gia tộc, đã mời tôi tới nhà riêng để tặng tôi bài thơ Nguyễn Bính khóc Nguyễn Nhược Pháp viết năm 1938. Qua sự việc này, tôi mới có cơ hội mở to mắt hơn khi nhận ra cái tình thân đến vô vàn giữa Nguyễn Nhược Pháp và Nguyễn Bính.

Nhân sự kiện đó, tôi vận động anh chị em trong gia đình là con cháu trong dòng họ, quyết định tổ chức một buổi lễ tưởng niệm người bác ruột của mình, thi sỹ Nguyễn Nhược Pháp, vừa là để giúp xã hội không quên, vừa là để công bố bài thơ cực kỳ xúc động này của thi sỹ nổi tiếng bậc nhất về thơ mới của nền văn học Việt Nam hiện đại. Trong buổi lễ long trọng và đầy cảm xúc đó, với sự có mặt khá đông đủ các cơ quan thông tấn và báo chí, với sự tham góp trực tiếp của Khoa Sáng tác, Lý luận và Phê bình Văn học Trường Đại học Văn hoá Hà Nội, cùng toàn thể các anh em, con cháu của thi sỹ Nguyễn Nhược Pháp, còn có các vị đại diện của cơ quan chính quyền dân làng Phượng Dực, quê hương của tác giả bài thơ bất hủ ‘Đi Chùa Hương’. Tại buổi lễ trang trọng này, Nghệ sỹ Nhân dân Thuý Mùi (Giám đốc Nhà hát Chèo Hà Nội) đã thay mặt giới nghệ sỹ đương thời, xin tình nguyện công diễn bài thơ Khóc Nguyễn Nhược Pháp của thi sỹ Nguyễn Bính.

Nghệ sĩ Thu Huyền với bài thơ ‘Đi Chùa Hương’ tại lễ tưởng niệm 70 giỗ Nguyễn Nhược Pháp

Trước giờ khai mạc, nhà thơ Hồng Thanh Quang (Phó TBT báo Công An Nhân dân) đã kịp có mặt với số báo CAND mới nhất, chính thức in bài thơ đặc biệt này của thi sĩ Nguyễn Bính cùng một bài viết nhân 70 năm giỗ Nguyễn Nhược Pháp.

Thi sĩ Nguyễn Bính (nguồn internet)

Một hôm, vào ngày giỗ mẹ tôi năm 2011, bác Kỳ gái tới thắp hương. Khi bác ngồi xuống ghế (lúc này bác đã yếu lắm rồi khi ở tuổi gần 90), bác vẫy tay gọi tôi đến bên cạnh. Khác với ngày thường, bằng một chất giọng nhẹ nhàng, thủ thỉ như tâm sự, bác chậm rãi bảo tôi:

“Cậu giỏi lắm, tôi và mọi người trong nhà rất tâm đắc vì nhà mình rồi cũng chọn được đứa đáng tin cậy để hy vọng… Hôm nay, bác bảo con thế này, bác cho con mấy cái bài thơ người ta viết cho bác từ hồi bác còn ít tuổi. Bác không biết rồi con sẽ làm gì với những thứ này, nhưng bác cứ giao cho con…”

Bác gái của tôi hình như còn chưa thấy thật yên tâm, nên trong tập giấy viết tay đó, bác dâu tôi còn có riêng cho tôi một lá thư, trong đó có một đoạn bác viết thế này:

“Bác vui mừng khi thấy lúc mình còn sống, bác vẫn được nghĩ về mẹ và mừng cho mẹ vì đã có các cháu biết thay cha mẹ trong ứng xử với mọi người… Trong những năm tới, ngày nào bác còn sống, bác vẫn mong sẽ được đến thắp hương cho mẹ…”

Đoạn kết mong đợi

Thời gian trôi đi, tôi mải mê với không biết bao nhiêu điều lo lắng, bao nhiêu sự việc, sự kiện cứ kế tiếp diễn ra liên quan đến những nội dung đề tài Nguyễn Văn Vĩnh và gia tộc… Một hôm, tôi mở cái tập giấy viết tay mà bác dâu đã trao cho mình. Tôi thoáng thấy ngỡ ngàng và thích thú khi nhận ra, đó là những bài thơ do thi sỹ Nguyễn Bính làm để tặng bác dâu tôi ngày bác còn chưa lập gia đình. Tôi biết là hay, biết là quý, xong cái sự bận rộn với những điều mình theo đuổi nó như không khi nào có khoảng trống. Tôi lại cất những tờ giấy viết tay của bác dâu tôi vào một nơi. Tôi bị căn bệnh, khi viết về điều gì cũng bị lệ thuộc vào thời khắc tâm lý mình cảm nhận.

Cũng là duyên phận, năm 2014, nhân 100 năm ngày sinh thi sỹ Nguyễn Nhược Pháp, anh Nguyễn Lân Khôi (con trai trưởng của ông bà Nguyễn Kỳ), do sốt ruột khi dân làng cổ Hoàng Mai tổ chức xây dựng góc văn hoá truyền thống, và mỗi lần chứng kiến người đời nhắc đến những gương mặt lẫy lừng trong làng thi ca Việt Nam, bao giờ cũng thấy nhắc đến Nguyễn Bính, Nguyễn Nhược Pháp.

Nghĩ về những tình cảm câm nín của thi sỹ Nguyễn Bính với mẹ mình ngày còn trẻ, mà không phải chỉ với mẹ anh, còn cả mối tình thân sâu sắc với người bác ruột của anh là Nguyễn Nhược Pháp, anh Nguyễn Lân Khôi đã giải bày với bạn bè và những người cùng làng câu chuyện tình cảm lãng mạn và trong sáng bên cái giếng cổ nằm giữa thôn Đông với thôn Đoài, mà hôm nay, thật phúc đức vì dân làng cổ Hoàng Mai vẫn giữ lại như một tượng đài, một chứng nhân của niềm kiêu hãnh, mỗi khi nói về môi sinh văn hoá của một làng quê Việt Nam thủa nào. Anh Lân Khôi đã quá một lần tâm sự với tôi về cái câu chuyện nghe như mang dáng vẻ ‘huyền thoại’ giữa một thi sỹ và một cô gái bên cái giếng làng, nhưng ở đây, nó là sự thật, đáng nói nữa, nó mang nặng lòng tự hào của dân làng Hoàng Mai, vì đây từng là nơi đã nuôi dưỡng một nhà thơ bậc nhất của thi đàn nước Việt trong giai đoạn đầu của nền văn học chữ Quốc ngữ.

Gia đình họ hàng nội ngoại và các con cháu của ông bà Nguyễn Kỳ trong buổi lễ mừng thọ ông 85 và bà 80 tuổi.

Cuối cùng, hỡi ôi, vậy là sợi tơ của văn hoá, của thi ca đã kết nối những con người ngày xưa ấy, thành những kỷ niệm đẹp muôn thủa, vì chỉ qua một câu chuyện tưởng như chuyện sinh hoạt đời thường, nhưng người hôm nay đã thấy được hình dáng của những con người đáng trân trọng, là những người tài, các con của học giả Nguyễn Văn Vĩnh như Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Kỳ, người con dâu Nguyễn Thị Chung và thi sĩ lừng danh Nguyễn Bính… Hình như họ đều là một, trong cái kho tàng quý báu về lịch sử văn hoá tinh thần, và không phải chỉ với gia đình học giả Nguyễn Văn Vĩnh và các con, xa hơn nó chính là linh hồn của quê cha đất tổ!

Nhân những ngày đầu Xuân Nhâm Dần, trang tin Tannamtu.com xin được thân tặng các quý vị và các bạn độc giả bài thơ Về ăn cưới do thi sĩ Nguyễn Bính viết năm 1939, và năm 1942 đã đem tặng bà Nguyễn Thị Chung trong lễ cưới của bà.

VỀ ĂN CƯỚI

Từ tôi bỏ xóm Mai vàng

Xa xôi muôn dặm lỡ làng một thân

Đã tàn biết mấy mùa xuân

Ngờ đâu tôi lại có lần qua đây

Giếng xưa nước cạn hay đầy?

Hoa dâm bụt đến độ này nở chưa?

Cảnh xưa lại gặp người xưa

Ngậm ngùi tôi viết bài thơ cuối cùng

Mai đây người thắm chỉ hồng

Lớp mây bốn ngả con sông đôi bờ

Người ơi dù có bao giờ

Vô tình đọc lại bài thơ tôi làm

Cho tôi được gọi bằng em

Được coi như bạn cho thêm thật thà

Dù gần hay ở nơi xa

Người tôi chỉ dám im mà nhớ thôi!

Xin mời các quý vị và các bạn xem Phóng sự do Đài Truyền hình VTC thực hiện, nhân buổi lễ tưởng niệm 70 năm ngày mất của thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp, và Nghệ sĩ Nhân dân Thuý Mùi công diễn bài thơ Khóc Nguyễn Nhược Pháp của nhà thơ Nguyễn Bính.

Trân trọng!

NGUYỄN LÂN BÌNH

Ghi chú: Lời kể của cụ bà Nguyễn Văn Vĩnh khi còn sống, về lý do thầy mẹ đặt tên các con trong gia đình.

3 Responses

  1. Sau câu Giếng xưa nước cạn hay đầy? chắc hẳn phải có một câu 8 nữa mà anh Bình đã bỏ sót không đăng, vì Nguyễn Bính làm thơ lục bát niêm luật rất chặt chẽ, không là chỉ làm một câu 6 rồi bỏ lửng đấy làm tiếp ngay một câu 6 khác?
    Không rõ bài Tương tư này Nguyễn Bính đã viết trong bối cảnh nào nhưng thật ra trong gia tài thơ của Nguyễn Bính có một bài Tương tư khác cực kỳ nổi tiếng, cũng thôn Đoài thôn Đông, Nguyễn Bính ghi rõ viết ở làng Hoàng Mai năm 1939. Người ta biết chủ yếu bài Tương tư này của Nguyễn Bính và nó được đưa vào Sách giáo khoa. Bài thơ như sau:
    TƯƠNG TƯ
    Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
    Một người chín nhớ mười mong một người.
    Gió mưa là bệnh của giời,
    Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
    Hai thôn chung lại một làng,
    Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
    Ngày qua ngày lại qua ngày,
    Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.
    Bảo rằng cách trở đò giang,
    Không sang là chẳng đường sang đã đành.
    Nhưng đây cách một đầu đình,
    Có xa xôi mấy mà tình xa xôi…

    Tương tư thức mấy đêm rồi,
    Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!
    Bao giờ bến mới gặp đò?
    Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?

    Nhà em có một giàn giầu,
    Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
    Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
    Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

    1. Thưa nhà báo Yên Ba!
      Ý kiến lưu ý của nhà báo về tên bài thơ được chúng tôi xác định là quà tặng của thi sĩ Nguyễn Bính gửi cho bà Nguyễn Thị Chung trong ngày cưới của bà có tên là “Về ăn cưới”. Việc nhầm lẫn này là lỗi của cá nhân tôi và tôi thành thật mong nhà báo Yên Ba cùng các độc giả độ lượng thứ lỗi!
      Việc xét theo niêm luật của thơ Nguyễn Bính, bài thơ “Về ăn cưới” có vẻ như bị thiếu hụt một câu… Phát hiện của nhà báo Yên Ba là hoàn toàn chính xác, tôi cũng lại xin được nhận lỗi do sự sơ ý, chủ quan của mình. Chúng tôi đã xin bổ xung vào bài câu thơ đó, sau khi xem lại bản ghi chép của ông Nguyễn Lân Khôi là con trai cả của bà Chung.
      Theo bà Nguyễn Thị Chung kể lại, bài thơ có tên “Tương Tư” chính là bài thơ Nguyễn Bính làm cũng là để tặng bà. Đọc kỹ các dữ liệu trong bài thơ đó, người ta thấy nó hoàn toàn trùng hợp với bối cảnh và diễn biến tình cảm giữa nhà thơ và cô gái xóm Đông, đồng thời cũng đã được bà Chung xác nhận, và bài thơ này cũng được bà Chung giữ trong số những kỷ niệm liên quan đến thi sĩ Nguyễn Bính.
      Tôi trân trọng cảm ơn sự quan tâm và ý kiến lưu ý của nhà báo Yên Ba! Tôi xin lỗi các quý vị và các bạn độc giả một lần nữa, và xin cẩn trọng hơn nữa trong việc biên tập những nội dung liên quan đến trang tin Tannamtu.com!
      Trân trọng!
      Nguyễn Lân Bình.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  
July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  

Social Network