PHÚC ẤM TỔ TIÊN

Khái niệm

Vào các năm 1990, 1991 và 1992, do tính chất hoạt động và yêu cầu của hãng Hàng không BALKAN – BUNGARI, là cơ quan tôi phục vụ, tôi đã thuê văn phòng cùng toàn bộ nhà số 7 (14 phòng) ở khu Biệt thự Hồ Tây do Ban Quản trị Tài chính Trung ương quản lý. Tại đây, trở thành nơi nghỉ của các phi hành đoàn từ Sôphia sang Hà Nội, vì vậy tôi gần như thường xuyên có mặt tại địa bàn này.

Khu Biệt thự Hồ Tây nằm trên con đường dẫn vào Phủ Tây Hồ (giờ là đường Đặng Thai Mai), khoảng cách chỉ không đến một km. Do làm việc nhiều năm tại khu vực này, tôi đã ngạc nhiên khi chứng kiến hàng đoàn người hướng vào phủ Tây Hồ vào những ngày mùng Một đầu tháng và ngày Rằm theo lịch Âm.

Tôi không có kiến thức gì về tôn giáo, cho dù người Việt thường tự nhận là mình theo đạo Phật. Tôi nhận thức từ khi còn là người lính, rằng việc người Việt có tập quán thắp hương và lập bàn thờ, hoàn toàn là ảnh hưởng từ tập quán, ý thức thờ phụng Tổ tiên và các đấng sinh thành, mà sau này do được đọc nhiều, tôi hiểu đó là ảnh hưởng của đạo Mẫu.

Vậy điều gì khiến hàng đoàn người, càng ngày càng đông cứ lũ lượt tìm đến thắp hương, lễ bái ở phủ Tây Hồ? Tôi tò mò hỏi thăm cư dân địa phương, những người dân bán hàng nước chè chén phía bên kia đường, và tôi được họ diễn giải như sau:Phủ Tây Hồ là nơi thiên hạ đến cầu lộc, cầu may, bây giờ mọi người đều thích có nhiều tiền… Còn anh nhìn bên kia kìa (phía bên phải đường đi vào phủ, qua một hồ nước, cách đường cái chỉ không tới 200 m), đấy ngôi chùa ấy có từ bao đời, mà có mấy người đến lễ bái đâu…

Cảnh một buổi lễ tại Phủ Tây Hồ được chụp năm 2017 (internet)

Tôi ngạc nhiên và thật sự tò mò xin hỏi cho rõ hơn, vậy nguyên nhân gì mà người dân ít vào ngôi chùa đó so với Phủ Tây Hồ, và tôi được họ trả lời giáo hoảnh:

Ối Giời… chùa này là nơi cầu phúc, không cầu tiền cầu bạc để giàu có được!

Tôi lặng người khi nghe cách giải thích dân giã đó, và tự hỏi: Vậy liệu có đúng không? Có phải dân chúng đã không quan tâm đến câu răn dạy của người xưa là: Có phúc có đức mặc sức mà ăn! Chứ người xưa đâu có nói: Có tiền có bạc mặc sức mà ăn?! Hơn hai chục năm sau, khi xã hội ngày càng tiến theo xu hướng sống với các giá trị ảo, ngôi chùa cầu phúc ấy bắt đầu được các giới chức quan tâm, chú ý và đầu tư tôn tạo, lúc đó tôi mới biết ngôi chùa có tên ‘Phổ Linh’.

Cổng chùa Phổ Linh chụp năm 2018 (internet)

Tự vấn

Từ câu chuyện trên, tôi suy nghĩ rất nhiều về thế nào là đạo là đức, là phúc, là lộc? Thế nào để được gọi là phúc ấm… Và tôi đọc được những dòng này của một nhân sĩ chuyên nghiên cứu về tôn giáo, xã hội, viết trong một bài báo như sau:

Dân gian tin rằng, tổ tiên mình rất thiêng liêng. Dù họ đã đi vào cõi vĩnh hằng nhưng vẫn luôn bên cạnh con cháu, bảo vệ, che chở cho con cháu khi gặp phải tai ương, khó khăn, họ vui mừng khi con cháu gặp được điều tốt lành, khuyến khích con cháu làm điều thiện và trách cứ, răn dạy để con cháu không làm những điều sai trái, thất đức…

Vâng, với tâm linh, việc nhận thức và lòng tin khác nhau giữa người này và người kia khác nhau cũng là lẽ thường, còn tôi tin những diễn giải nêu trên của nhà nghiên cứu đó. Quan niệm này có lẽ không dành riêng cho ai, nên tôi suy ngẫm rất nhiều về thực trạng trong gia đình mình, trong dòng tộc mình, và tôi thấy trăn trở khi nghe câu ca dao rất có vần có điệu và có cả sự cảnh báo rằng: Người ta sống về mồ về mả, chẳng ai sông bằng cả bát cơm!

Hoàn cảnh

Tôi là cháu nội của gia tộc dịch giả, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh, người có quê gốc tại thôn Phượng Vũ, xã Phượng Dực, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay sáp nhập thành Phú Xuyên, Hà Nội).

Suốt nhiều năm lớn lên trong hoàn cảnh ngặt nghèo của chiến tranh và những biến động chính trị lịch sử của đất nước, cộng với nạn ‘khủng bố’ tinh thần của các lực lượng cầm quyền ở từng giai đoạn lịch sử, việc hiểu và nhận thức đúng về toàn bộ những gì liên quan đến gia đình dòng họ, tôi ở trong trạng thái rất mơ hồ.

Biết ơn Tạo hoá, Trời, Phật và các Thánh thần, dù có hơi muộn, nhưng khi vào tuổi năm mươi trở đi, tôi mới có được ý thức cụ thể và khá rõ ràng về quá khứ của gia tộc mình. Nhờ những nhận thức được tổng hợp và sâu chuỗi về quá khứ, tôi đã nhận ra những bất hợp lý và cả những điều ngang trái, chua xót, bất công đối với Tổ tiên, ông bà và những người thân đã khuất trong họ hàng của mình…

Năm 1987, sau một thời gian dài tôi sống với những nỗi ngờ vực, do ngày càng thấy nhiều điều cay đắng cứ ẩn hiện trong cuộc sống của gia đình dòng họ, vào lúc tôi đã gần bốn mươi tuổi, tôi mới được biết mộ ông bà nội của mình ở đâu, và vì sao lại có những bố cục rời rạc và thiếu sự quy củ, khi được người chú ruột đưa tôi về quê và chỉ dẫn cụ thể. Lần đầu tiên được chứng kiến mộ của ông nội, tôi đã bàng hoàng vì sự đơn sơ và sự quạnh hiu của mảnh đất nơi có tới hơn một chục các thành viên là những người cô chú bác ruột của tôi, và có nhiều trường hợp trên cả ông nội tôi đến hai thế hệ đang yên nghỉ trên cùng một khoảnh đất.

Gia đình ông Nguyễn Phổ (1917-1997),
con trai thứ năm của học giả Nguyễn Văn Vĩnh chụp tại khu mộ gia đình năm 1994

Tôi từng thấy nghẹn ngào và ngờ vực, rằng nguyên nhân nào, lực cản nào đã đặt những người thân đã khuất của tôi vào thực trạng tiêu điều đến thế ở mảnh đất vĩnh hằng? Một dân tộc vốn coi trọng ‘nghĩa tử là nghĩa tận’ mà mộ chí của con người nổi tiếng trong làng văn hoá của đất nước này vào ba thập niên đầu ở thế kỷ 20 lẽ nào lại bị ‘lãng quên’ như thế? Hay vì ông chỉ là Người công dân vĩ đại? (Điếu văn của đại diện báo giới Bắc kỳ tại tang lễ Nguyễn Văn Vĩnh 8/5/1936 ở Hà Nội).

Tôi đã lặng người khi đứng trước một gò đất thấp được người chú ruột chỉ cho, rằng đây, mộ ông nội đây! Tôi ngơ ngác vì chỉ thấy lơ thơ mấy khóm cỏ dại mọc, với một tấm bia đá được cắm xuống mà phải sờ tay vào mới biết, rằng trên bia có chữ khắc nhưng không thể đọc được vì đã quá mòn…

Trở về nhà, tôi kể một cách hồn nhiên với người vợ của mình, rằng:

“Buồn quá em ạ, sao lại có thể thế chứ…? Nhất định phải xây cho ông ngôi mộ cho tử tế, chí ít cũng phải giống những ngôi khác của thiên hạ trong cùng khu nghĩa trang”

Vợ tôi hỏi:

“Thế liệu có tốn nhiều tiền không?”

Tôi đáp mặc dù hầu như tôi không có khái niệm gì về lĩnh vực này:

“Chắc cũng phải bằng tiền một cái xe đạp mifa…!”(1)

Vợ tôi nói luôn:

“Vậy anh bán cái xe đạp của em đi… Nhưng mà anh phải nói chuyện với các bác các chú đã, hình như, làm những việc này phải do các bậc trên mình, những người là thế hệ trên mình còn đang sống!”

Nghĩ đến bao nhiêu những tập tục phải vượt qua để làm một việc, mà theo tập quán người Việt được gọi là việc LỚN, tôi đành chép miệng… Biết vậy! Thật mừng, vì chỉ hơn một năm sau đó vào cuối những năm 80, ơn Giời, các bác các chú tôi đã cùng nhau gom góp, chính thức nâng cấp, xây dựng khu mộ của gia đình tại nghĩa trang Bãi Sấu, Phượng Dực bằng gạch với một hình thức đơn giản.

Phần mộ gia tộc học giả Nguyễn Văn Vĩnh chụp năm 2005.

Năm 2005, sau ba năm, dựa trên những gì các thế hệ trước tôi đã thực hiện một cách rụt rè, tôi khuấy động ở mức dè dặt về đề tài nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh. Tôi mừng vì chứng kiến xã hội dần tỏ thái độ quan tâm, tán đồng. Một số những người quen là nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu hoạt động trong làng văn hoá xã hội, đã đề xuất với tôi việc muốn được về thăm và thắp hương tại phần mộ của con người được mệnh danh là Ông tổ nghề báo ở Việt Nam (Sự nghiệp Nguyễn Văn Vĩnh – Nguyễn Văn Tố 1889-1947 viết năm 1936).

Ơn Giời, buổi thăm viếng lịch sử này tại khu mộ gia đình nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh của giới nhân sĩ và những người hâm mộ, đã được ghi hình dài 30 phút. Đáng quý, là đoạn băng ghi hình đó đã được gửi đến các thành viên trong dòng họ mà do hoàn cảnh lịch sử, đang sinh sống ở các miền đất khác nhau, qua đó, đã cổ vũ, làm sống lại những ký ức của những người thân đang ở xa về quê hương, nguồn cội. Đây là sự kiện mang nhiều ý nghĩa sâu và rộng trong quan hệ nội tộc, và trở thành nhân tố giúp cho hậu duệ trong gia tộc Nguyễn Văn Vĩnh vượt qua những mất mát tinh thần do hoàn cảnh chính trị, lịch sử đã tạo ra. Kết quả này đã đưa mọi người trong một dòng họ đến sự gắn kết hơn, dần trở thành một khối sức mạnh, cùng nhau chia sẻ, vượt qua những khác biệt trong nhận thức về nghĩa vụ và trách nhiệm, và thực hiện những việc quan trọng trong cuộc sống tâm linh liên quan đến nguồn gốc, tổ tiên và dòng họ…

Lần đầu tiên, các nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu văn hoá của nước Việt Nam đến thắp hương chính thức tại khu mộ học giả Nguyễn Văn Vĩnh ở Phượng Dực vào tháng 12/2005

Năm 2009, đứng trước những tiến bộ đạt được trong quan hệ nội tộc, cùng với sự đồng thuận, động viên và chia sẻ của các thành viên trong gia tộc đang sống ở xa, các con cháu của gia tộc Nguyễn Văn Vĩnh đang sinh sống ở Hà Nội, đã quyết định cùng nhau thực hiện việc nâng cấp và tôn tạo khu mộ của gia đình một lần nữa theo tinh thần trang trọng, khiêm tốn, phù hợp với bản chất của người ông nội của mình.

Kiến trúc sư Nguyễn Thị Chính (cháu nội trong gia tộc) đã đứng ra lên phương án tổng thể, thiết kế theo phong cách chân phương, giản dị và trang trọng. Đặc biệt, điều này còn được thể hiện thông qua nội dung của những câu đối, lời văn và các dữ liệu được thể hiện mang tính đặc trưng trên khu mộ.   Năm 2010, được sự ủng hộ nhiệt tình của các cấp chính quyền ở địa phương, cùng với sự giúp đỡ tích cực của bà con dân làng Phượng Dực, các con cháu đã vượt qua mọi trở ngại kể cả sự khác biệt trong quan điểm cá nhân, lẫn nhận thức khác nhau về mục đích tái thiết, và thực hiện thành công việc quy tập hài cốt của cụ bà Nguyễn Văn Vĩnh (Đinh Thị Tính 1881-1965) cùng thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp (1914-1938, con trai thứ tư của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh), giúp cho việc tôn tạo khu mộ thực sự trở thành một an viên đường cho những người thân trong gia tộc.

Khu mộ gia tộc học giả Nguyễn Văn Vĩnh hoàn thành việc cải tạo lần thứ hai tháng 12/2010.

Cũng xin được nhấn mạnh, việc quy tụ hài cốt và hồi hướng các chân linh của những người đã khuất trong gia đình học giả Nguyễn Văn Vĩnh về trong cùng một khuôn viên, cũng chính là nguyện vọng sâu xa của cụ bà cả Nguyễn Văn Vĩnh (Đinh Thị Tính) vào những năm cuối đời. Đặc biệt việc tìm, xác định được với đầy đủ yếu tố cũng như bằng cứ phần mộ của thi sỹ Nguyễn Nhược Pháp để đưa về khu mộ gia tộc, là một kết quả mỹ mãn, hệ quả của những nỗ lực thành tâm và tấm lòng kính trọng sâu sắc của hậu thế đối với các bậc cha anh tài đức. Đó cũng là kết quả quý hiếm trong cuộc sống tâm linh của gia tộc học giả Nguyễn Văn Vĩnh, điều đã được các cơ quan truyền thông và các báo xuất bản ở Việt Nam viết vào thời điểm đó với thái độ trân trọng, thán phục khi đề cập đến sự vu hồi của kiếp người, và họ đã đánh giá rằng: Đó chính là phúc ấm của một dòng họ!

Ngày 21/12/2011, thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp (con trai thứ tư của học giả Nguyễn Văn Vĩnh) sau gần 50 năm thất lạc, đã được về bên cạnh ông bà, bố mẹ và các anh chị em trong khu mộ gia đình tại nghĩa trang Bãi Sấu, Phượng Dực, Phú Xuyên, Hà Nội.

Năm tháng trôi đi, gia tộc học giả Nguyễn Văn Vĩnh đã thực sự cảm nhận được những giá trị cao quý về một cuộc sống tinh thần viên mãn, điều đã trở thành như một hấp lực, được mang đến từ vong linh của những người thân đã khuất đối với các thành viên là hậu bối trong một gia tộc.

Nhiều thành viên trong dòng họ đang sinh sống từ những đất nước xa xôi, cùng những người có tấm lòng trân trọng từ mọi vùng miền, những người ngưỡng mộ và nhớ ơn công lao to lớn của học giả Nguyễn Văn Vĩnh trong lịch sử văn hoá Việt Nam, đã chủ động tìm về và đến trước khu mộ, bày tỏ lòng kính trọng, lòng biết ơn bằng những nén hương thơm và nỗi niềm khắc khoải khi nghĩ về quê hương bản quán, về những con người không phải chỉ là máu mủ, mà còn là những người đã nặng lòng và tận tâm vì sự tiến bộ của dân tộc này, của đất nước này. Năm 2020 và 2021, bằng ý thức, bằng sự thống nhất và nỗ lực của các cháu chắt trong gia tộc, đã hoàn thành việc rước được tro cốt của người bác cả, bác sĩ Nguyễn Hải (1901-1938) và người con trai thứ hai của người bác cả là bác sĩ Nguyễn Lân Đính (1931-2017) từ phương Nam về cùng an nghỉ bên ông bà tổ tiên.

Dân làng Phượng Dực tổ chức lễ cầu nguyện đón hũ tro của người con trai cả là bác sĩ Nguyễn Hải (1901-1938) và người cháu nội của học giả Nguyễn Văn Vĩnh là bác sĩ Nguyễn Lân Đính (1931-2016) được chuyển từ Sài Gòn ra Hà Nội tháng 12/2020.

Bên cạnh đó, các con cháu chắt trong gia tộc cũng đã hoàn thành việc xây dựng được phần mộ hồi hướng cho người vợ hai của học giả Nguyễn Văn Vĩnh (Phan Thị Lựu), và người vợ ba của Nguyễn Văn Vĩnh (Suzan Giáp Thị Thục), cùng người con gái cả Nguyễn Thị Loan (1907-1943) và con gái út của học giả Nguyễn Văn Vĩnh là Nguyễn Thị Thu Hương (1928-1945) về quây quần bên những người thân đã khuất đang yên nghỉ trong khu mộ gia đình.

Phần mộ hồi hướng chân linh của bà ba Nguyễn Văn Vĩnh (Suzan Giáp Thị Thục) và người con gái út là Nguyễn Thị Thu Hương (1928-1945) được hoàn thành vào tháng 12/2021

Với kết quả đáng trân trọng này của hậu duệ gia tộc học giả Nguyễn Văn Vĩnh,  đứng trước Trời, Phật và các Thánh thần, các con cháu mang dòng máu gia tộc học giả Nguyễn Văn Vĩnh xin được bày tỏ lòng biết ơn to lớn trước sự che chở và phù trợ của Đấng Tạo hoá, của các vong linh linh thiêng của ông bà tổ tiên và những người ruột thịt đã khuất trong gia tộc, của bà con dân làng Phượng Dực cùng các bạn bè gần xa, đã giúp đỡ chúng con là những kẻ hậu sinh hoàn thành một phần quan trọng xứ mệnh của những kẻ hậu bối đối với tổ tiên, ông bà! Đây là cơ hội để chúng con cảm nhận được sâu sắc, giá trị của điều nhân loại vẫn mơ và ước, đó là:

Phúc ấm Tổ tiên.

Lần đầu tiên trong lịch sử gia đình, các thành viên thuộc thế hệ F2 và F3 (có cả F4 số lượng ít) của các chi họ trong gia tộc học giả Nguyễn Văn Vĩnh đã có mặt cùng nhau trong Tiết Thanh Minh năm 2012 bên khu mộ của gia tộc tại Phượng Dực

Thay mặt trang tin chuyên đề về học giả Nguyễn Văn Vĩnh và gia tộc, Phụ trách trang tin Tannamtu.com

Nguyễn Lân Bình

2 Responses

  1. Cảm ơn Anh Bình đã gửi tới độc giả những câu chuyện quý giá về Tổ Tiên dòng họ Nguyễn Văn Vĩnh, với tinh thần hiếu đễ, tri ân & tưởng nhớ Tiền Nhân.
    Kính chúc Đại Gia Đình Sức Khỏe, Thịnh Vượng & Vạn An!

  2. Cám ơn anh về bài viết Phúc ấm Tổ tiên .
    Ở cái tuổi thất thập càng sâu nặng về điều này , vì cái đích cuối cùng của cả một đời người cũng chỉ có vậy . Nó lằ sự kết nối muôn đời của các thế hệ .Cảm ơn anh rất nhiều vì sự đồng cảm và sự kính trọng của những việc anh làm với gia tộc cụ Nguyễn văn Vĩnh.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  
July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  

Social Network