“Chế độ đút lót hối lộ muôn hình vạn trạng – La concussion sous ses différentes formes” – Phần 1

VŨ TRỌNG PHỤNG dịch NGUYỄN VĂN VĨNH:

(NHỮNG THIÊN HÌNH VẠN TRẠNG CỦA NẠN HỐI LỘ)

La concussion sous ses différentes formes

Nguyễn Văn Vĩnh

Vũ Trọng Phụng dịch từ báo tiếng Pháp “L’Annam Nouveau”.

Bài giới thiệu

Xã hội Việt Nam ta, muốn trừ cho tiệt nạn hối lộ thì phải biết cách bài trừ nó một cách thấu triệt, nghĩa là tùy theo cái can hệ của từng trường hợp một, không phải theo cái quan niệm Tây phương về sự thanh liêm của các quan tòa hay của những công chức, nhưng mà theo những thành kiến mà dân Á Đông có sẵn đối với những ngạch nhà nước, để mà trừng trị bằng cả mặt cai trị lẫn mặt tư pháp.

Ở những xã hội bên Âu Tây, những sở nhà nước được phân tách ra rất minh bạch, được chia ra rất có hệ thống, đến bậc bất cứ người dân nào, mỗi khi có việc với một người thay mặt nhà nước, thì đều có thể hoặc nghĩ thầm trong bụng, hay là nếu cần, thì nói thẳng ngay với người công chức ấy rằng: “Ông được ăn lương thì ông phải làm cho tôi”. Ấy vì đó mà người Tàu đặt ra cái danh từ dân bộc, để gọi những người công chức trong một nước dân chủ. Cố nhiên điều ấy phải ở một nước mà người dân nào cũng hiểu rõ những quyền lợi và nghĩa vụ của mình.

Người dân Việt Nam mình cũng có thể hiểu rất dễ dàng theo quan niệm ấy đối với nhà binh hay tòa án, vì lẽ đã mấy nghìn năm nay, chúng ta quen sợ cái oai (cái quyền bất khả xâm phạm và rất đáng sợ) của những người có binh khí để bắt thiên hạ phải tuân lệnh, và các quan tòa để phân phải trái cho bọn người đến công đường, vì lẽ những ông quan tòa ấy là được cái địa vị làm ông chúa tể xét xử kiện cáo, không phải theo luật pháp nó là một điều ước định ở những nước văn minh, nhưng mà là tùy nghi châm chước với trật tự và luân lý chung, theo cái ý định của quân quyền là một thứ quyền thiêng liêng, thế thiên hành đạo vậy.

Ở những nước Á Đông, nhà nước bao giờ cũng có cái quyền vô giới hạn. Mỗi một người công chức có thể kiêm đủ mọi chức tước được, miễn là cần dùng cho sự tỏ rõ cái oai quyền của nhà vua. Cái chế độ phân quyền trong những ngạch này chỉ là một vấn đề tổ chức không hệ trọng mà những điều chi tiết thì chỉ có triều đình biết mà thôi, chứ quần dân không có thể tọc mạch được. Cho nên bất cứ một người thay mặt nào của nhà nước cũng là thay mặt cho cả chính quyền, và, do thế, có quyền và có phận sự bắt buộc thiên hạ không những phải kính trọng những điều luật pháp rõ ràng mà còn phải kiêng nể cái gì là cái thanh thế của triều đình nữa.

Hai người dân An Nam đương cãi vã nhau, nếu không có thể xin một ông quan án ngồi ở công đường phân xử cho, thì liền đi mách người đội xếp thứ nhất mà họ gặp, hoặc là mách bất cứ một người nào có cái vẻ là thay mặt nhà nước. Đã phải mất bao năm trời mới giảng được cho những người dân quê thông minh vào bậc nhất hiểu được rằng người cảnh binh hay người lính tuần chỉ có phận sự giữ gìn trật tự mà thôi, và ông cẩm thì là người sếp của những người cảnh binh ấy, và cái quyền của một viên cẩm chỉ có thể to đến bậc cho phép ông cẩm ấy không đem một tội vi cảnh mà tư ra tòa, khi thấy không cần dùng nghiêm trị cho lắm, thế mà thôi. Và một cái đặc quyền của một viên cẩm, đối với ta, được thế, cũng đã là thích đáng lắm.

Cứ suy một điều ấy thì đủ hiểu có cái sự tờ mờ trong đầu óc người dân quê đối với những chức trách mà chính phủ mới đặt thêm cho các hạng công chức, hoặc Tây hoặc Nam, nhất là kể về những ông đáng tiếng gọi là “quan” nguyên là phụ mẫu chi dân, thay vua trị nước, những thứ “đèn trời” phải soi sáng khắp mọi chỗ để mà biết hết tất cả mọi sự, và, do lẽ ấy, về mặt nào thì cái oai quyền cũng như là vô hạn; sự chia việc mà chính phủ Pháp cắt đặt, nhất là khi chính phủ đã tính rằng không nên làm mất cái tôn ti trật tự đã sẵn có để cho các viên chức có đủ thế lực để có thể đem tình đoàn thể kết hợp lẫn nhau.

Cái điều ấy nó có thực một cách quá sâu xa, đến bậc muốn giữ một chút lễ độ rất cần thiết, ta là dân thì ta phải cho rằng bất cứ một ông “quan” nào trong một tỉnh nhỏ là cũng đủ thẩm quyền xét xử bất cứ việc gì, và một khi đã hiểu ra rằng ta đã vào hầu nhầm sở, thì ta phải vừa xin lỗi vừa tháo lui, nghĩa là phải làm ra cái bộ tuân theo mệnh lệnh là đi cửa khác, chứ không được nói rõ ràng ra rằng cái ngạch ta đã vào nhầm đáng lẽ không có quyền gì nói vào cái việc của ta. Bởi những lẽ ấy, thật là rầy rà biết bao là cái phong tục của những nơi tư thất. Và cứ càng nhận mãi cái sự lễ phép của người dân, thì một số quan trường lâu dần đi tưởng rằng mình đã quả thật có thẩm quyền về mọi việc một cách đích đáng nữa.

Như vậy thì ta phải biết phân biệt rằng trong những việc hối lộ thì có những vụ mà người công chức đem ra buôn cái quyền hạn của mình, với những vụ mà người công chức cứ việc nhắm mắt nhận liều một cách khoái chí những điều xin xỏ vô ý thức mà người đã vì ngu dốt mà đem đến cầu cạnh ở nơi họ, hay là làm ra bộ rằng có đủ thế lực vận động hộ người dân ấy ở những cửa công khác.

Đối với những ông quan đem ra buôn cái quyền hạn của mình hay là cái thanh thế của mình, đồng bào chúng ta đã có những ý kiến ra làm sao? Những ý kiến ấy đối với người Âu Tây, là kỳ quặc lắm, tuy rằng người Âu Tây cũng biết ứng dụng cái thói lạm quyền ấy, nhưng mà bằng những cách giản dị hơn.

Đối với những kẻ ăn hối lộ mà kiếm chác được nhiều, thì đó lại là một cái lợi tự nhiên, mà người làm việc nhà nước nào cũng có quyền được hưởng, nghĩa là một kẻ tốt số được Trời ban cho phấn vua lộc nước, vì rằng kiếp này đã làm nhiều điều từ thiện hay là kiếp trước đã khéo tu. Đó cũng là một sự phù hộ, một sự ân thưởng mà Hoàng Thiên ban cho tổ tiên ta khi ta may được làm quan, để ta làm giầu, và để cho bố mẹ ta được một cuộc dưỡng lão an nhàn, vinh hiển.

Đã đành rằng thế, nhưng mà cái luân lý phổ thông lại còn tách bạch ra những cái bổng lộc “phi pháp” với những bổng lộc “tự nhiên” − nghĩa là những bổng lộc nó khoan thai nó đến thì người ta từ tốn chìa tay ra nhận lấy, nghĩa là sự tạ ân của người dân về một việc chạy chọt thành công không có thiệt hại cho kẻ khác cũng như không phạm vào phong tục, pháp luật mấy tí − với những của đút kiểu khác mà người ta không có quyền ăn, hay là kiếm chuyện ra mà ăn.

Như vậy thì làm thế nào mà dung hòa cái bổng lộc “phi pháp” với cái thanh liêm thuần túy của ông quan xử kiện, và các lòng công minh chính trực của những ông quan thủ hiến? Ta phải biết rằng những dân tộc như dân Á Đông chúng ta, là vẫn có một quan niệm kỳ quái về những công đường, công sở, thật là tráỉ ngược hẳn với cái quan niệm của người Tây phương, mặc dầu mỗi khi đem phân tích hành vi, động thái của người đời, thì bất cứ ở xã hội nào, ta cũng thấy một thứ khuynh hướng về cái xấu, cuộc xung đột của tình và trí, cái nhu nhược bẩm sinh của cõi lòng người với sự nghiệt ngã của xã ước, cái lòng vị kỷ của mọi kẻ với cái nguyên tắc công bình và trật tự của mọi xã hội, tùy theo cái óc tổ chức hay những cổ truyền của tổ tiên.

Đó là một cái đặc ân mà người ta nên biết ứng dụng chứ đừng lạm dụng. Về cái bổng lộc Trời cho ấy, do lẽ ấy, mà có cả một cuốn sách luân lý dạy bảo mọi cách thức thực hành.

− Ăn của dân mà được việc cho dân,

− Ăn tiền có nhân có nghĩa;

− Ăn tiền phải chăng;

− Ăn cho có nhân từ;

− Ai cho thì lấy, đừng bóp nặn;

− Tài lộc nên để tự nhiên nó đến, đừng có bới móc ra

Ấy đó là những câu châm ngôn trong thứ sách luân lý thực hành ấy. Đối với những ông quan ăn hối lộ một cách đáng chê trách thì thiên hạ nói bằng những câu như dưới đây:

− Ăn sâu cay độc địa, tàn nhẫn;

− Bất cận nhân tình, chẳng từ ai;

− Bới việc ra mà ăn của người ta;

− Làm thợ quan  (être mandarin artiste)

Những thứ lợi tức mà pháp luật không công nhận thì gọi là bổng lộc .Những địa phương có nhiều bổng lộc thì gọi là tốt hay là tốt bổng. Ở những nơi dân gian ít lễ lạt thì gọi là không có gì, không xơ múi gì. Những thứ bổng lộc như thế tuy không được pháp luật công nhận nhưng cũng chẳng bị pháp luật hay là luân lý kết án, vì rằng quan trường vẫn công nhiên mong ước những bổng lộc ấy. Nó còn là một điều kiện để cho người ta chúc tụng nhau vào ngày tết Nguyên Đán nữa.

Trên đây là cái quan điểm của bọn người được nhận những thứ bổng lộc và lễ lạt ấy. Bây giờ ta thử xét đến cái phương diện của người dân đem vi thành những của ấy xem nó ra làm sao. Dân chúng công nhận rằng có bổn phận phải để cho những quan phụ mẫu được hưởng những lợi lộc không có nói đến trong pháp luật hay trong luật lệ của ngạch cai trị.

Đầu tiên thì nên kể đến vụ tết tháng năm, tháng mười và ngày tết đầu năm. Đồ lễ thì bằng thực phẩm: gạo, gà, ngỗng, trứng, các thứ hoa quả, chè hay những quý vật trong miền, để đem biếu những ông quan, họ nhận vì cho là điều thông thường trong thiên hạ và chỉ nhận của dân những thứ nhật dụng như thế thôi để tỏ rằng mình vẫn là thanh liêm, độc lập, đối với người dân biết cái gì là kính trọng người bề trên. Khi những kẻ đi lễ mà giầu có thì họ mua những thứ hàng hóa quý giá ở những hiệu tây, hoặc là khi ông quan tỏ cái ý không muốn nhận những thực phẩm kể trên, vì đã thừa dùng, và sợ nếu nhận thì lại phải cái phiền đem những thứ cồng kềnh, lặt vặt kia mà cho bớt họ mạc.

Có những ông quan trường bảo ngay người dân một cách trơ tráo rằng muốn nhận những thứ lễ vật ấy bằng tiền bạc thật, nhưng số tiền mà dân hàng tổng hàng xã gom góp lại rồi cử một kẻ tai mặt đem lên quan mà trao tay, chứ không phải bầy vẽ hành nghi gì nữa. Cái hình thức hối lộ ấy, dân chúng gọi là chè đen, vì chữ đen có nghĩa là hữu danh hữu thực, sờ mó được, và có nghĩa là tiền nữa, vì những đồng tiền kẽm, xưa kia thiên hạ vẫn gọi là tiền đen. Khi mà người ta muốn tránh cái tiếng ăn tiền, ăn chẳng hạn có một đồng bạc thôi, thì người ta gọi thác đi là nhận một nửa cân chè.

Cùng vào cái khoản bổng lộc ấy lại phải kể cả những thứ lễ mừng (cadeau de réjouissance) mà các hương lý, tổng lý phải đem dâng cho một ông quan mới đến nhậm chức hay là mới được thăng chức, hay là vào dịp có một sự hiếu, hỉ chi đó trong gia đình nhà ông quan, cưới xin, khao vọng ông bố, lục tuần bà mẹ, được phong sắc, hoặc có tang cớ, hoặc có giỗ tết… Ông quan tốt nhận những lễ vật ấy coi là sự tự nhiên, nhất là khi những lễ vật ấy lại có nghĩa lý, lại được việc, và có ngụ cái nghĩa kính cẩn bề trên rất cần cho tôn ty trật tự nữa.

Vào những dịp có sự vui mừng, ông quan ấy chỉ cho mời mọc những kẻ thân cận dưới quyền của mình và bảo họ không nên đem gì đến cả và để cho những người ấy tự do có muốn đến thì đến, bằng không thì thôi. Cho nên cái việc mời mọc một kẻ dưới đến họp tiệc là một điều rầy rà, khó nghĩ. Cái việc mời mọc ấy chỉ được hoan nghênh những khi nào cái lòng thanh liêm của ông quan là không ai chối cãi nữa, và thiên hạ thấy hiển nhiên rằng quan mời là vì muốn vui lòng thết đãi kẻ dưới mà thôi, chứ không phải vì cái manh tâm bó buộc người ta phải đem lễ vật tốn kém đến, tùy theo cái sở thích của ông quan hay là cách đánh giá những lễ vật ấy ở nơi phòng kín.

Phong tục có khi công nhận, có khi bó buộc những kẻ tùy thuộc phải họp mặt vào những dịp có đại sự ở cả nhà ông chánh tổng nữa: Tang lễ ông bố, bà mẹ, người vợ, ngày giỗ bố, giỗ mẹ, cưới xin của người trưởng nam hay trưởng nữ. (Đối với những nhà đông con thì người ta giữ cái nhã độ không phải đi mời mà để cho thiên hạ tự nhiên phải đến, khi cưới xin những con thứ).

Đối lại, nếu nhà nào nhiều công to việc lớn quá mà cứ hễ đụng bát là đủ có mời mọc những kẻ dưới quyền, thì sự ấy rất không được hoan nghênh, nhất là khi sự chủ lại là một tay thần thế, có nhiều người dưới quyền mình.

Nếu cứ phải bày vẽ ra những sự chè chèn ấy, thì người ta đành phải làm ở nơi quê nhà, chứ không làm sờ sờ ngay ở nơi mà người ta đương trọng nhậm, và phải giấu kín những sự ấy cho kẻ dưới không biết đến. Hoặc là bần cùng không giấu được khắp mặt, thì người ta cũng có mời mọc dăm người và dặn bảo rằng nên đem cho thứ lễ vật này, khác, rẻ tiền, cho phải phép, ít nhiều có lễ thì thôi.

Cái việc mời mọc tiệc tùng mà lại dặn những người được mời phải “chước cho” đồ lễ là một việc rất nhã nhặn, rất ý tứ, nhưng mà phải vì lòng thành thực cực điểm thì thiên hạ mới không dám làm trái lời dặn bảo. Không phải bất cứ ông quan nào mà cũng là có cái địa vị được người tùy thuộc đến ăn uống tin rằng mời là mời mà thôi, chứ không có ý cầu lợi đâu.

Lại còn một thứ quà lễ tết cũng đáng liệt vào hạng những lễ vật tâm thành, tự nhiên. Đó là những hoành phi câu đối, đồ thêu hay đồ sơn, mà người dân phải gom tiền của nhau để mừng quan trên, hoặc vào dịp khánh thành nhà mới, hoặc để dâng làm kỷ vật, tỏ bụng nhớ ơn.

Tùy theo cái tình giữa người đem dâng lễ và người nhận lễ, cái thứ đồ biếu ấy có khi giá trị là ở văn chương hay dở chứ không ở đắt tiền hay rẻ tiền, mà cũng có khi thì trái hẳn lại. Khi mà câu văn là cao xa bay bướm, có giá trị văn chương thật sự, thì người nhận lễ có khi bỏ tiền túi ra mà trả thay cho bọn người dâng lễ cái giá trị tương đương với cái hào nhoáng bề ngoài của vàng son, để tỏ cái ý rằng nhận là nhận cái chữ, cái tinh thần câu văn mà thôi.

Đó là những trường hợp mà người nhận lễ thành thực được vui lòng, cho là có hân hạnh vì cái đồ lễ. Nhưng mà muốn thấy sự đời tốt đẹp cho cả mọi người thì thiên hạ phải cư xử hành động một cách kín đáo và ý nhị lắm thay! Nhưng cái kỷ vật thành thực, những sự đền ơn đích đáng ở đời là hiếm lắm, và ở nhà một ông quan trên có nhiều kỷ vật quá, thì ta cũng phải nên ngẫm nghĩ một chút vào đấy mới được.

Lại có thứ đồ lễ tuy không đắt đỏ cho lắm, nhưng mà vì nó là thông dụng quá, và sự thâu nhận nó có tính chất “lem lém như máy” cho nên  người ta phải nhận rằng đích nó là một thứ bổng lộc mà người ta ước lượng được một cách dễ dàng hơn là cả sự tính lương tháng nhà nước nữa. Ấy là cái lễ trình (cadeau de présentation) nghĩa là cái tiền phải mất thì mới vào lọt cửa vậy. Xưa kia, cái thứ lễ trình ấy chỉ có là 2 bao chè cho mỗi buổi hầu không can hệ hay là 8 bao (nghĩa là 1 cân) cho những buổi hầu có việc khẩn cấp.

Vì lẽ những quan trường chẳng hoài hơi lo sự làm giàu cho những chú khách buôn chè, nên chi mới có một cách “tổ chức” ở những nơi dinh thất, tư gia. Một đứa đày tớ chân tay được ủy thác vào cái việc nhận và kiểm điểm những bao thiếc ấy, những bao chè mà lâu dần thì người ta không để ý đến cái gì đựng ở trong nữa. Người ta lại đem bán lại cho người chủ hiệu ở trước cửa, cái người xin được phép dọn hàng là được một cái đặc ân, để mà mua lại bằng giá buôn, tính một lần cho xong xuôi công việc mãi mãi, mà cũng không cần xem xét đến giá trị cánh chè xấu tốt, hay bao thiếc có thủng, bẹp hay sao nữa cũng chẳng biết.

Những bao chè ấy thì lại có người dân khác đến mua để lại đem vào lễ, cứ thế mãi mãi. Nó vào cửa trước rồi nó lại ra bằng cửa sau. Dần dần, người ta bỏ hẳn cái lối lễ trình ấy, vì nó cồng kềnh phiền nhiễu lắm, để mà thay vào bằng tiền. Vào lúc xã hội mới …cải cách xong thì người dân quê cũng còn đem một chút hình thức bề ngoài vào việc đi lễ lạt. Họ kiếm những đồng bạc mới tinh tươm để vào khay mà dâng trên trán sau khi lạy hai lạy lên gối xuống gối cẩn thận để nói về cái vi thành bằng chè đen như đã cắt nghĩa trên kia.

Chắc vì thế mà người Tây mệnh danh cách đút lót ấy nơi cửa công là một cái lạy. Nhưng về sau người ta thấy cái khay là kềnh càng quá, và không trông được, vì có khi trong khay có 2 đồng bạc thì lại cũng nhiều khi trong khay chỉ có 5 hào con mà thôi; thế là người ta lại cải cách một lần nữa, vì cái lối ấy vừa nguy hiểm lại vừa khó coi.

Cái đứa đầy tớ trước kia được cắt đặt vào việc nhận chè thì về sau nghiễm nhiên trở nên một tay viên chức thu thuế, ngay ở công đường − đã được lệnh cho vào hầu những kẻ nào đã nộp tiền vào rồi − và lại là ông thư ký kế toán của chủ nó, cái người tối đến thì sẽ khám két và tra soát sổ sách.

Bằng cách ấy thì các quan phụ mẫu cũng đỡ muối mặt, vì cái tên đầy tớ ấy có cái vẻ là chính nó nặn bóp dân chứ không phải là chủ nó, mà tiền vào cửa kia chỉ là tiền diêm thuốc cho kẻ tôi tớ. Ông chủ nó lại còn được thể mắng mỏ và xua đuổi những anh dân khờ dại nào chưa biết cái lệ mới mà cứ đem những thực phẩm vào dinh. Bị đuổi ra, người dân quê bao giờ cũng được có ai chỉ bảo rõ ràng cái cung cách phong thể, kín đáo…

Còn nữa

Trich bài viết của Nguyễn Văn Vĩnh trên báo Annam Nouveau 1932

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  
July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  

Social Network