Hủ Lậu

Thưa các quý vị và các bạn! Báo THANH NIÊN số ra ngày 8/10/2017, có bài viết với đầu đề đặt người đọc vào tâm lý ngờ vực, về năng lực thật của các nhà khoa học Việt Nam nói chung, là: 10 NHÀ KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN MỚI CÓ MỘT NGƯỜI CÓ KHẢ NĂNG ‘DẪN DẮT’ ! Thật đáng quan tâm, khi bài viết, có ý kiến của PGS Nguyễn Ngọc Châu, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật – Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam, ông cho hay, trong các cuộc tranh luận từ trước tới nay, nhiều học giả đến từ các ngành khoa học tự nhiên hồ nghi, việc ở Việt Nam có nền nghiên cứu khoa học xã hội, mà cho rằng chúng ta chỉ có khoa học minh họa…. Theo tôi, cả đầu đề của bài báo và ý kiến của vị PGS Châu, đều thiếu sát thực với những gì chúng ta thấy trong nền khoa học xã hội Việt Nam hôm nay. Thậm chí, việc dùng từ ‘nền’ có thể làm mếch lòng ai đó. Đặt giả thiết, nếu đầu đề bài báo là một kết luận đúng, chắc chắn với sắc xuất 1/10, hay còn gọi là 10%, các nhà khoa học Xã hội Nhân văn có khả năng dẫn dắt được  dân chúng, hoặc ít hơn việc dẫn dắt, là tạo được ảnh hưởng tích cực đến dư luận xã hội, thì chắc chắn hôm nay, xã hội đã không rơi vào cảnh:Khóa luận tốt nghiệp sao chép đến 99%(TN. 28/9/2017). Hoặc Tiến sĩ giấy’, ‘thạc sĩ tiền’ và nỗi buồn của chuyện sính bằng cấp (GD. 7/10/2017). Nguy hại hơn nữa là:3 triệu thanh thiếu niên Việt bị rối loạn tâm thần(VnExpress. 28/10/2018)…. Chúng ta không đi xa hơn trong việc bàn đến quan niệm về thế nào là ‘dẫn dắt’, vì không vô cớ, tiêu đề của bài báo đã phải đóng ngoặc hai từ này. Chúng ta cũng không bàn được ở đây về cái giá trị nội dung của sự ‘dẫn dắt’ mà 10% (ước tính) các nhà khoa học đó có thể đem tới cho xã hội. Nhưng với tôi, rõ ràng là chúng ta đã thực sự thiếu mất ‘…nền nghiên cứu khoa học xã hội, mà… chúng ta chỉ có khoa học minh họa’. Thưa PGS Châu, ông đã nói đúng! Nhưng ở đâu đó, lúc nào đó, có bao giờ ông đặt vấn đề rằng, vậy nguyên nhân là từ đâu ?! Nhà nước VN XHCN, vốn không ai phải chịu trách nhiệm về những thực trạng yếu kém của xã hội và đất nước nói chung, vì vậy, việc đặt vấn đề như trên, vô hình chung, chúng ta là những kẻ không liên đới? Thật chua chát và đáng xấu hổ cho một quốc gia không muốn nhìn vào toàn bộ sự thật trong quá khứ, xong cũng chẳng mấy ai đó quan tâm, xem việc vô trách nhiệm đó, nó có ý nghĩa gì? Cuối cùng, chỉ người có nhân cách, có đạo, thấy thất vọng mà thôi. Đất nước không có nền nghiên cứu khoa học xã hội, làm sao đúc rút được những giá trị cốt lõi của lịch sử, của tiền nhân, từ đó làm căn cốt hướng đến xây dựng một xã hội nhân văn? Một lần nữa, chúng ta cần xác nhận, điều PGS Châu nêu là thật! Chỉ đáng tiếc, rằng các vị mang danh là các ‘nhà khoa học’, song hầu hết các vị chỉ dám nêu sự việc, mà không mấy ai dám nêu rõ những lý do sâu xa nào, đã đẩy xã hội đến thực trạng vừa nêu. Đây là chưa nói đến giải pháp khắc phục, một lĩnh vực mà với một xã hội giáo điều như Việt Nam, nó chẳng khi nào được coi trọng. Để góp chút chút cho việc hiểu thêm những lý do đã đẩy xã hội đến trạng thái bi đát trong lĩnh vực khoa học xã hội như nói ở trên, tôi xin nêu một dẫn chứng nho nhỏ,  là một bài viết đã có từ 112 năm trước, về những trăn trở, lo lắng, có cả một chút giận hờn, ‘đòi’ xã hội cần phải vứt bỏ những sự lạc hậu nặng nề và tai hại trong tư duy, trong lối sống của người dân ở đất nước này. Nỗi niềm sâu nặng với nỗi đau của người xưa về một môi sinh xã hội, cần dành cho các ‘nhà khoa học’ hôm nay suy ngẫm và nên làm những việc cần làm. Bài viết là một trong nhiều cách dẫn dắt dân chúng tìm đến sự thay đổi và tiến bộ, khi mà cả dân tộc còn đang vật vờ, mê muội. Mặt khác, đọc nó, mới càng thấy các bậc tiền nhân có lương tri, đã đắm đuối ra sao trong việc tìm một sự thoát thai khỏi những kìm hãm tai quái, khi nhìn thấy cảnh một giống dân đã quen với sự an phận, ‘thành quả’ to lớn của ngàn năm phong kiến với sự áp đặt lối sống vua-tôi, được coi là nền đạo đức, là truyền thống của một xã hội. Điều này, đã để lại những sợi gen ‘di truyền’ trong lối hành xử của người Việt đến tận hôm nay. Tôi cho rằng, vì nền nghiên cứu khoa học xã hội của nước VNXHCN, thiếu sự công tâm trong nhận thức lịch sử văn hóa dân tộc, nên đã không muốn đề cập đến những góc tích cực của các lực lượng tri thức xuất thân từ những nền tảng khác trong lịch sử, mà chỉ thiên vị hệ tư tưởng chính trị mà họ áp đặt. Ngoài ra, họ còn bưng bít, né tránh, không muốn nhìn thẳng. Đây là một mất mát không nhỏ đối với nhận thức của các thế hệ đi sau, về những vốn tinh hoa trí tuệ của các bậc nhân sỹ có tấm lòng với đồng bào mình. Sự quay lưng này, làm tổn hại đến lòng tin của thế hệ trẻ, khi họ chưa tìm được một đức tin vững chắc cho tương lai của chính mình, đúng như nội dung bài viết của nghệ sỹ Đức Khuê có nhan đề Mùa hạ cuối cùng, với câu kết trong bài viết của nhà viết kịch Lưu Quang Vũ: Khi lòng tin bị đánh cắp, các em sẽ bước vào dòng đời thế nào? Lòng tin là cái để các em bám víu (VnExpress, 24/8/2018), và để người lớn hy vọng…! Trân trọng!

Quan lại triều đình

 

HỦ LẬU 

(Đăng Cổ Tùng Báo, ngày 2/5/1907)

Từ khi nước mình giao thiệp mấy Quí-quốc (nước Pháp. B/t) những người ta cũng đã biết rằng các nước bên Thái-Tây (châu Âu. B/t) đều tân ích (tân tiến, ích lợi. B/t) cả, duy chỉ có nước ta còn giữ thói cổ nhiều lắm. Cũng có những người xem tân thư (các sách triết học phương Tây. B/t) giộng hay là đi xem xét sự văn-minh thái-tây để về phao chuyền lại cho người nước thì hẵng bắt chước, nhưng mà những người hủ lậu (lạc hậu. B/t) mà cứ khư khư giữ thói cổ, nghĩa là chỉ noi theo kẻ trước mà làm theo, chẳng biết tự xét xem lợi hại thế nào, thì hạng ấy cũng hãy còn nhiều. Hủ lậu tại là dốt nát, nên không có đủ trí khôn mà hiểu được những sự tân ích, cùng là những sự tài năng của người ta. Thí dụ như là cứ đem xương ông bà cha mẹ đi tìm địa-lý (thầy bói. B/t) để cầu phú quí; hay là hễ có ông bà già cả đi qua về tắt (người chết hiện về. B/t), thì mổ trâu mổ bò mời làng nước, kẻ quen người thuộc ăn uống vui vẻ dã như là tiệc, như hội hè gì vậy! Như trong các việc canh-nông thì bây giờ các nước đã tìm được nhiều cách khôn ngoan về sự giồng giọt, bón mầu, máy tát nước, vân vân… nhưng có ai chịu theo mà làm lợi thêm ra đâu. Chỉ giữ những thói cổ-xưa, như là xem ngày xuống đồng (ngày tốt, ngày xấu. B/t), cầu dào (cầu mưa. B/t) để cho có nước làm ruộng! Lại cũng có người hễ trôn rau cắt giốn ở đâu thì cứ ở đấy, giũ đời cũng không chịu rời đi nơi khác mà làm ăn. Như thế là ở mấy tỉnh lớn ở chung châu (đồng bằng. B/t), người thì nhiều, ruộng đất thì không đủ, ai mộ đi khai khẩn nơi khác cũng không đi. Chỉ vì thế nên người thì nhiều ra, mà đất cày cấy vẫn thế, không thêm được chút nào, đất hoang thì vẫn bỏ không. Còn như trong việc thương mãi kỹ nghệ cũng phải khôn ngoan biết tùy thời mà chế tạo các đồ buôn bán, nhưng phần nhiều người vẫn không chịu theo sự tân ích.

Cuộc sống ở Việt Nam cách đây hơn 100 năm

Than ôi! Đến nỗi người học-thức cũng còn có người hủ-lậu thì nước thịnh lợi làm sao được! Kìa ai cắp sách đi học cũng chỉ nhằm vào sự đi làm quan, ngoại giả không thiết việc gì nữa. Xin xét tận nơi thì mấy biết là chỉ chăm học để làm quan là nhầm. Bắc-kỳ ta hơn 10 triệu người mà các chỗ làm quan chỉ có 200 chỗ. (ấy là kể cả các nơi lam-chướng  ‘rùng núi xa xôi, hẻo lánh. B/t’ mà không ai muốn đi). Trong vòng một khóa thi ba năm (nhiệm kỳ. B/t), hoặc quá cố đi, hoặc bị cách triệt đi, ước độ hai ba mươi người. Thế mà cả nước đem nhau đi có một đường ấy, thì có phải là sai hay không? Sự hủ lậu nước mình còn nhiều, kể cũng không xiết được. Nói tóm lại thì nước nào cũng vậy, người nào cũng vậy, có biết chăm cho sự tân-ích thì mấy nên được. Còn như kẻ nào mà không theo sự văn-minh tân-ích ở đời này, thì là hãy còn hủ lậu. Những người như thế đã chẳng những là không có ích gì cho xã hội, mà lại làm nhiều điều ngăn chở sự tân-ích trong nước nữa. Thực-trí.   Ghi chú: Thực Trí là một trong nhiều  bút danh của Nguyễn Văn Vĩnh, dùng trên tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở xứ Bắc Kỳ. Theo thống kê của chúng tôi trên tờ báo này, ngoài bút danh đầu tiên là Tân Nam Tử – Người Nam Mới, ông còn có bẩy bút danh khác như: Ái mộ, Thực trí, Phượng Tề, Đào Thị Loan, XXX, Lý Nhỡ, và Mũi Tẹt Tử. Nguyễn Văn Vĩnh dùng nhiều bút danh khác nhau do giai đoạn lịch sử này, người dân chưa có khái niệm về nghề báo, nên không thể có ‘Nhà báo’để chiêu mộ. Ngoài việc tạo không khí ‘nhộn nhịp’ cho nội dung tờ báo, vì hầu như đa phần các bài viết đều do ông là tác giả, nên mỗi bút danh, Nguyễn Văn Vĩnh đều có mục đích riêng, phù hợp với các chủ đề hoặc văn hóa xã hội, hoặc chính trị. Thí dụ:
  • Các bài nhằm mục đích khai dân trí, ông lấy tên Thực Trí.
  • Các bài có nội dung chính trị, ông ghi rõ Nguyễn Văn Vĩnh.
  • Các bài liên quan đến các quan cai trị người Pháp, ông chỉ ghi XXX.
  • Các bài có chủ đề pháp lý, ông dùng tên LÝ NHỠ.
  • Các bài có chủ đề tập quán, phong tục, văn hóa… ông dùng MŨI TẸT TỬ.
  • Các bài chuyên đề về phụ nữ, ông dùng ĐÀO THỊ LOAN….
Người chép bài và chú giải: NGUYỄN LÂN BÌNH                             

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

Social Network