Câu chuyện thứ Năm (kỳ 3) – KHOA HỌC LỊCH SỬ HIỆN ĐẠI VỚI NGUYỄN VĂN VĨNH

Kỳ Ba.

SỰ KIỆN

Kỳ 1: Khoa học lịch sử hiện đại với Nguyễn Văn Vĩnh

Kỳ 2: Khoa học lịch sử hiện đại với Nguyễn Văn Vĩnh

Cuộc bầu cử Quốc Hội kết thúc, tôi nhận được tin qua nhóm bạn làm việc trong Tổ tin ở cơ quan, và biết ông Dương Trung Quốc đã trúng cử, trước khi ông Quốc điện thoại cho tôi một ngày. Ông Quốc thông báo bằng chất giọng tràn đầy niềm vui làm tôi cũng thấy phấn chấn:

“Bình ơi, Anh được 66,47% số phiếu!”(1).

Thật là ‘sự kiện’ đối với công chúng, vì ông Quốc không phải đảng viên Cộng sản. Đây chính là lý do tạo sự tò mò đối với dư luận. Nhân dân mừng vì họ coi đó là dấu hiệu tiến bộ của nền dân chủ.

Tôi thật sự thấy vui và chúc mừng ông Quốc, rồi đôn đáo làm các công việc chuẩn bị cho buổi hội thảo theo kế hoạch. Lúc này, tôi mới thật tin, rằng ý định tổ chức ‘sự kiện’ về Nguyễn Văn Vĩnh sẽ được thực hiện. Tôi chạy đến người em họ là Nguyễn Lân Thắng(2) thông báo việc ông Quốc, và ý kiến của ông Quốc, Thắng mừng lắm. Tôi đề nghị Thắng cùng chia sẻ với tôi chuyện tài chính liên quan đến những chi phí dự kiến cho buổi hội thảo, vì đến giai đoạn này, chuyện tiền bạc đối với tôi đã trở nên eo hẹp hơn rất nhiều so với trước đây khi còn đi làm cho ĐSQ Bungari. Thắng nghe tôi trình bày, nhất trí ngay.

Thực lòng, vào lúc đó, tôi cũng không ý thức được đúng, và cũng không bận lòng, rằng tại sao và thế nào là hội thảo, tọa đàm, hay mạn đàm…? Với tôi, đơn giản chỉ là cuộc tập trung đông người có tổ chức, bao gồm những người có trình độ chuyên môn, có hiểu biết bàn về chủ đề ông nội mình!

Đến lúc này, tôi mới thấy cần những chiếc cặp tư liệu của các bác tôi giao lại. Tôi lục lấy bài trong một số cặp không chọn lọc, miễn là của cụ Vĩnh viết, và đi thuê sao chụp đóng thành 30 bộ theo khổ giấy A 4, dày khoảng hơn 200 trang, dùng làm quà cho một số đại biểu đến dự hội thảo theo tinh thần ông Quốc lưu ý.

Tôi trao đổi với ông Quốc để thống nhất chọn địa điểm tổ chức. Vào giai đoạn trước đó, do tính chất công việc, tôi có quan hệ khá gần gũi với Ban Quản trị Tài chính Trung ương(3), là cơ quan quản lý Khu Biệt thự Hồ Tây (Bên trái đường đi vào Phủ Tây Hồ), vì thế tôi đã đề nghị lấy địa điểm này để tổ chức hội thảo. Ông Quốc lưu ý tôi về dự định này như sau:

Không, ừ thì trên ấy rất hay, nhưng phải đi xa, nhiều vị cao tuổi, đi không tiện. Tôi sẽ đề nghị lấy luôn hội trường tầng hai của Bảo tàng Cách mạng này. Làm ở đây, nó mới ý nghĩa…! Hội trường vừa mới cải tạo, đẹp lắm. Mình nên làm tại chính nơi mọi người không nghĩ tới, nó mới hay”.

Nghe ông Quốc nói, ý kiến của ông chạm ngay vào lòng háo danh của tôi, một loại tính cách chẳng phù hợp chút nào với bản chất của ông nội mình. Song, rõ ràng đây là một sự lựa chọn khá tinh tế của ông Quốc. Tôi tưởng tượng, rằng việc tổ chức buổi gặp gỡ các nhà khoa học, nói về một người từng không được những nhà hoạt động vô sản đồng tình, ngay tại nơi là trung tâm lưu giữ những hoạt động của Cách mạng Vô sản Việt Nam, thì nó kịch tính đến thế nào?

Ông Quốc nói tiếp:

“Theo tôi, kinh phí không nhiều đâu. Khách mời, ngoài các vị giáo sư đầu ngành như Phan Huy Lê (Chủ tịch Hội KHLSVN), Đinh Xuân Lâm (1925-2107. Phó CT. Hội KHLSVN), Chương Thâu (Giáo sư sử học)… tôi sẽ mời cả ông Hoàng Tiến(4) và Nguyễn Thành, ông này trước là Phó Giám đốc Bảo tàng này này, giờ về hưu làm cố vấn trên Ban Tư tưởng TW. Phải mời Nguyễn Thành, mời chính người đã phê phán cụ Vĩnh nó mới hay, vì như thế nó mới là đa chiều, mới là hội thảo. Chẳng nhẽ hội thảo chỉ có một luồng ý kiến thì chán chết. Cậu cứ yên tâm, tôi mời được…”.

Mọi việc cực kỳ khẩn trương vì thời gian chuẩn bị rất ngắn. Chỉ hai ngày sau, ông Quốc thông báo đã hoàn thành việc thuê được hội trường. Chúng tôi thống nhất danh sách khách mời, làm giấy và đưa đến mời các nhân vật quan trọng. Ông Quốc còn lưu ý thêm, để tôi nhận thức đúng tinh thần của buổi lễ khi đặt in giấy mời:

Mình không gọi là hội thảo được, nó phức tạp, lắm chuyện lắm, mình cứ để là tọa đàm cho nó đơn giản, họ đỡ hạnh họe… ”.

Tôi cũng gật đầu, vì lúc đó, tôi thực sự chẳng hiểu vì sao lại phức tạp?! Vì sao lại có thể sẽ bị hạnh họe? Với riêng tôi, như đã bộc bạch, rằng miễn là có một buổi gặp chính thức mang tính xã hội, bàn và nói về ông nội mình là tốt rồi. Tôi ngây thơ cho rằng, sự nghiệp Nguyễn Văn Vĩnh rõ ràng thế kia mà, bao nhiêu nhân chứng, vật chứng từ ngày xưa vẫn còn nguyên, đương nhiên các ý kiến sẽ phải là ngợi ca, là tôn vinh. Hơn nữa, tôi cũng có cái tư duy của con người tồn tại và lớn lên trong chế độ XHCN, thích ‘cậy’ thần, ‘cậy’ thế, rằng nếu có ai nói linh tinh, trái chiều, đã có ông Quốc, vì bây giờ ông ấy đã là Đại biểu Quốc hội cơ mà.

Còn việc buổi tọa đàm sẽ đạt tới điều gì? Để làm gì…. ? Tôi chưa biết.

Tôi ước tính các khoản sẽ cần chi tiêu cho việc in ấn tài liệu, in giấy mời, thuê hội trường, thiết kế phông màn, thiết bị âm thanh, ghi âm (không quay video), chụp ảnh, hoa, quả, bánh kẹo, nước ngọt… đến tiền để phong bì cho đại biểu. Vào giai đoạn này, xã hội Việt Nam coi việc đi dự bất luận cuộc hội nghị nào có quy mô một chút, là sẽ có ‘phong bì’, thậm chí, có nơi tổ chức việc gì đó, nhưng không có phong bì, khách ‘nháy’ nhau ra về. Và đó là chuyện đương nhiên như một phần của lối sống văn hóa XHCN, đặc biệt với các vị khách có danh, có phận, nó trở thành như một ‘tập quán’.

Ông Quốc chỉ bảo tôi với một thái độ ân cần:

Phong bì chỉ cần cho hai người thôi, ông Hoàng Tiến là một, vì ông ấy ở mãi dưới Thanh Xuân, ông ấy nghèo lắm, còn không chắc có tiền đi xe ôm, ông ấy lại không có phương tiện gì cả, mình nên có tí chút để hỗ trợ. Thứ hai là ông Nguyễn Thành, cậu hiểu ý tôi chứ…?!”. Còn lại không cần đâu, mà có đưa có khi mọi người lại cười cho và từ chối vì chủ đề nói về cụ Vĩnh cơ mà”.

Tôi càng thấy tự tin đã đành, nhưng niềm tin vào ông Quốc trong tôi, tăng lên rất nhiều. Tôi không thấy có gì khó khăn lắm với con số tổng dự chi các khoản, khoảng 15 triệu (mười lăm triệu) đồng lúc đó.

Ngày đó, tôi chỉ được nghe loáng thoáng rằng, ông Hoàng Tiến là người có quan hệ thân thiết với cụ Nguyễn Hữu Đang (1913-2007)(5), mà tôi lại nghe nói về cụ Đang rất nhiều qua cha tôi, liên quan đến ngày 2/9/1945, do hai người cùng nằm trong Ban Tổ chức của buổi lễ. Tôi cũng được biết, ông Hoàng Tiến là người rất say sưa nghiên cứu văn hóa, và nghe đâu là mẫu người khá cương trực.

Cuộc tọa đàm được ấn định tổ chức vào ngày 14.6.2002. Mọi việc đã diễn ra như dự kiến, khách mời đến dự chỉ thiếu ông Phan Huy Lê. Danh sách khách mời   khoảng 40 người, nhưng thực tế đã có đến 60 khách.

Nhờ có buổi tọa đàm này, tôi bắt đầu có chút nhận thức về nhiều gương mặt nổi danh trong giới hoạt động khoa học và xã hội, mà trước đó, tôi chỉ nghe tên.

Buổi lễ.

Ông Dương Trung Quốc, Chủ tọa. Bên phải là giáo sư Đinh Xuân Lâm. Bên trái là Nguyễn Kỳ – Con trai thứ 6 của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh

Ông Dương Trung Quốc giữ vai trò Chủ tọa. Ông Quốc nhấn mạnh hơn một lần với các khách tham dự, rằng đây chỉ là một buổi trao đổi ý kiến về nhân vật lịch sử, không phải là hội thảo khoa học, vì vậy không có tham luận chuẩn bị trước. Ông đề nghị những người sẽ phát biểu cần giữ thái độ bình tĩnh, tôn trọng quan điểm của người khác, và nên kìm chế cảm xúc, không để vượt ra ngoài phạm vi tọa đàm.

Khi nghe những lời dẫn chương trình của ông Quốc, tôi cảm nhận, rằng có điều gì đó tiềm ẩn trong suy nghĩ của các cử tọa, có thể dẫn đến căng thẳng trong tọa đàm chăng, nên ông Quốc mới phải chủ động lưu ý, ‘rào dậu’ với thái độ cân nhắc, ‘răn đe’ đến như vậy.

Lần lượt, hầu hết các vị khách là giáo sư, các nhà nghiên cứu đều có ý kiến bày tỏ suy nghĩ về Nguyễn Văn Vĩnh. Những người phát biểu, ngoài việc bộc lộc những kiến thức nhất định về những giá trị to lớn mà Nguyễn Văn Vĩnh đã để lại trong sự nghiệp lao động, sự nghiệp báo chí và xuất bản thông qua chữ Quốc ngữ, có người đã nhấn mạnh, xác định, rằng xã hội cần làm rõ những giá trị và cả sự dị nghị lịch sử, cần có sự đầu tư, quan tâm nghiên cứu sâu và rộng hơn về Nguyễn Văn Vĩnh.

Tôi thấy có đôi người, khi được mời phát biểu, đã không dấu được vẻ lúng túng. Hình như (tôi đoán) đề tài Nguyễn Văn Vĩnh làm họ bắt buộc phải ‘thận trọng’ khi nêu quan điểm của mình. Tôi cũng nhận ra, có ý kiến bộc lộ trong trạng thái tâm lý của sự mến phục Nguyễn Văn Vĩnh, nhưng hạn chế dùng những từ ngữ có tính đề cao, hoặc ngợi ca. Nói về khía cạnh này, càng về sau, tôi càng nhiều bằng chứng.

Cũng có hai vị khách đã đặt thẳng câu hỏi, rằng vì sao, ở một góc nào đó trong nhận thức của một số người có trách nhiệm, lại có thái độ phủ nhận Nguyễn Văn Vĩnh? Câu hỏi này đã làm cho một vài vị giáo sư đầu ngành trở nên lúng túng. Riêng trường hợp ông Hoàng Tiến khi phát biểu, ông đã xin phép cử tọa cho truyền đạt ý kiến của cụ Nguyễn Hữu Đang về Nguyễn Văn Vĩnh bằng văn bản, vì cụ Đang không tới dự được.

BTC ngày Quốc khánh 2.9.1945 họp mặt nhân 50 năm ngày thành lập nước VNDCCH.
Nguyễn Hữu Đang, Trưởng Ban Tổ chức lễ Quốc khánh, người ngồi thứ ba, từ trái sang phải.
Kỹ sư vô tuyến điện Nguyễn Dực, đứng thứ hai từ trái sang phải.
Kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh, người thiết kế lễ đài ngày 2.9.45, người đứng thứ hai từ phải sang trái.

Đặc biệt, khi Nguyễn Thành phát biểu, ông đã ‘hãnh diện’ nhấn mạnh, việc mình là tác giả của bài viết trên báo Nhân dân năm 1999 về Nguyễn Văn Vĩnh, và cũng là người duy nhất trong buổi tọa đàm, nêu ý kiến không chấp nhận việc gọi Nguyễn Văn Vĩnh là nhà yêu nước!!!

Toàn bộ khán phòng đã lặng đi đến mức nếu có con ruồi nào bay, mọi người cũng sẽ nghe thấy tiếng vỗ cánh của nó. Khi ông Thành dứt lời, tuyệt nhiên đã không hề có tiếng vỗ tay, dù là một người.… Khác hẳn với những trường hợp trước đó. Không khí trong khán phòng đã rơi vào sự khác thường, mà có lẽ ông Quốc đã dự liệu từ trước. Xuất hiện nhiều ánh mắt nhìn nhau giữa một số khách mời. Những ánh mắt mà có lẽ khó có lời văn nào miêu tả chính xác, rằng nó ẩn chứa điều gì?!

Người phản ứng gay gắt nhất về ý kiến của ông Nguyễn Thành, thậm chí với chất giọng khá căng thẳng, là giáo sư Phong Lê (6). Ông Phong Lê, với tông giọng đanh và cao (nhưng vẫn tỏ ra kìm nén để không mang mầu sắc đối kháng), khẳng định như sau trước sự im lặng nặng nề của khán phòng:

“Anh Thành ạ, anh đã chạm đến một khía cạnh nhạy cảm nhất đối với đề tài Nguyễn Văn Vĩnh. Tôi không tán thành cách suy nghĩ của anh. Tôi cam kết sẽ đi đến cùng với anh về đề tài này, dù có là bao lâu đi chăng nữa, ngày nào tôi còn sống!”.

Tiếp theo ý kiến phản đối của ông Phong Lê, là ông Hoàng Tiến, ông Ba Đăng (cựu chiến sĩ tình báo Quân đội – Cục Hai)….

Giáo sư Phong Lê phát biểu tại buổi tọa đàm về Nguyễn Văn Vĩnh, ngày 14.6.2002. Người ngồi bên trái là nhà văn Hoàng Tiến.

Có lẽ, nhận thấy ‘khí nóng’ bốc lên nữa trong khán phòng sẽ là điều không hay, ông Quốc đã lập tức đứng dậy với một thái độ khá dứt khoát nhưng ôn tồn, ông đề nghị các đại biểu hết sức kìm chế trên tinh thần trao đổi, cùng nhau nhận thức, qua đó sẽ còn nhiều cơ hội để mỗi người sẽ bộc lộ những hiểu biết riêng của mình về Nguyễn Văn Vĩnh, giúp cho xã hội có được những nhận thức đúng về một con người có sự nghiệp đa dạng và đồ sộ hiếm thấy trong lịch sử Việt Nam.

Buổi tọa đàm kết thúc trong không khí khá trầm lặng, mặc dù phần lớn thời gian đã diễn ra trong tinh thần nồng nhiệt và hào hứng. Tôi thiển nghĩ, cái trầm lặng khi buổi tọa đàm khi kết thúc, là hệ quả của ý kiến lạnh ngắt mà Nguyễn Thành đã nêu lên trong buổi tọa đàm.

Lần đầu tiên, một số nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu văn hóa về thăm Phượng Dực, dâng hương tại khu mộ gia tộc học giả Nguyễn Văn Vĩnh, và gặp gỡ giao lưu với các tầng lớp nhân dân địa phương. Ảnh chụp buổi giao lưu ngày 5/12/2005 tại quán Văn chỉ – Phượng Dực

Hết kỳ Ba

Chú thích:

  1. Số liệu về tỉ lệ số phiếu trúng cử của ông Dương Trung Quốc, tôi không dám chắc tuyệt đối, bởi lẽ sự việc qua đi đã lâu, nhưng chắc chắn lúc đó theo trí nhớ của tôi là trên 60%.
  2. Nguyễn Lân Thắng sinh năm 1950, con trai thứ của ông Nguyễn Hồ (1923-2015), là em trai liền kề với Nguyễn Dực. Thắng là giáo viên cấp III môn sử.
  3. Khu biệt thự Hồ Tây nay được gọi là Nhà khách Hồ Tây, thuộc Cục Quản trị A, văn phòng TW Đảng, có diện tích rộng gần 14 ha.
  4. Nhà văn Hoàng Tiến (1933-2013). Tác giả của đề tài nghiên cứu KH cấp Nhà nước “Chữ Quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết đầu thế kỷ 20”, mã số KX 06-17.
  5. Nguyễn Hữu Đang (1913-2007). Nhà báo, Trưởng Ban Tổ chức lễ Độc Lập 2/9/1945. Thứ Trưởng Bộ Thanh niên VNDCCH 1946.
  6. Phong Lê, sinh năm 1938. Giáo sư, nguyên Viện Trưởng Viện Văn học. Nhà nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam hiện đại.

========================

One Response

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  
July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  

Social Network