Câu chuyện thứ TƯ: Phụ nữ Tân văn từ Nam ra Bắc

Mùa Thu năm 2006, nhóm làm phim độc lập do tôi chủ xướng đặt chân đến Paris. Ơn nhờ nhân duyên và được tiền nhân dẫn lối, chúng tôi làm quen với ông Nguyễn Khánh Hội, là Việt kiều người Nam bộ.

Ông Khánh Hội ra đi khỏi đất nước từ những năm 40 của thế kỷ trước. Khi chúng tôi được gặp ông, ông đã nghỉ hưu sau hàng chục năm làm cố vấn cho hãng IBM của Hoa Kỳ tại Pháp. Tính tình ông dễ chịu, ân cần và nghe đâu là người được mến mộ trong giới người Việt Nam ở Pháp, mặc dù theo tôi hiểu, cộng đồng người Việt ở Pháp vô cùng đa dạng và cực kỳ phức tạp.

Ông Khánh Hội là Chủ tịch của một tổ chức tự nguyện, có tên “Ký ức Việt Nam”, bao gồm nhiều gương mặt trân trọng lịch sử, quan tâm và tự hào về nền văn hóa xã hội của dân tộc Việt trong quá khứ.

Ông Nguyễn Khánh Hội khi biết tin, tôi là cháu nội của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, có nguyện vọng làm phim tài liệu về những gì liên quan đến con người và sự nghiệp của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, ông đã tỏ ra vô cùng hào hứng và nhiệt tình cao độ. Ông chỉ dẫn những địa điểm mà chúng tôi quan tâm. Ông giới thiệu với chúng tôi nhiều gương mặt danh tiếng trong làng khoa học và nghiên cứu ở Pháp. Ông đã tận tình đưa chúng tôi đi suốt quá trình làm bộ phim trên đất Pháp, cho dù sức khỏe của ông không được tốt.

Từ trong ra ngoài: Bà Anna Richardson-Chủ tịch ADALY, ông Khánh Hội, Nguyễn Lân Bình và đạo diễn Trần Văn Thủy.

Ảnh chụp năm 2006 tại nhà riêng bà Anna ở TP. Montpellier-Pháp.

Một lần, ông đưa chúng tôi đến một địa điểm là một quán ăn rất có danh do một người Việt quản lý. Tại đây, hình như là điểm gặp gỡ, giao lưu của rất nhiều các tầng lớp người Việt Nam xa xứ không phải chỉ ở Pháp. Tôi đã có cơ hội gặp được khá nhiều gương mặt người Việt nổi tiếng theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Cho đến thời điểm đó, tôi hoàn toàn chỉ là một đứa trẻ con nhiều tuổi trong làng văn hóa xã hội. Hiểu biết của tôi đơn giản, thuần túy, vì thế khi tôi được tiếp xúc với những người có danh tiếng, tôi cũng chỉ biết cúi đầu chào ….!

Người Chủ quán là một mẫu người đặc trưng của người miền Nam. Anh có nhiều ý tưởng mà tôi không ngây thơ đến độ không hiểu. Tuy nhiên, về mặt cá nhân, khi anh được giới thiệu về lý do tôi và các cộng sự trong nhóm làm phim đến Paris, anh đã tỏ thái độ vô cùng thân thiện và trân trọng, điều này làm cho tôi cực kỳ hạnh phúc.

Người Chủ quán đã khẳng định khi trò chuyện với Nhóm làm phim chúng tôi, rằng vô cùng ngưỡng mộ học giả Nguyễn Văn Vĩnh, nhờ được học từ khi còn là học sinh phổ thông. Đặc biệt, anh đã ngỡ ngàng và ngạc nhiên đến mức vỡ òa, khi được biết, tôi chủ trương làm phim chỉ vì thầm phục và kính trọng ông nội, và bằng 100% kinh phí tự túc!

Người Chủ quán đã quyết định mời Nhóm làm phim chúng tôi một bữa tiệc thịnh soạn, cùng với sự có mặt của những người mà theo anh, là bạn bè thân hữu do anh quyết định, gồm cả người Việt và người Pháp.

Bữa cơm thân mật hôm đó, đã quy tụ khoảng 30 người. Không khí thân tình, dễ chịu. Anh Chủ quán đứng dậy tuyên bố lý do buổi gặp mặt, tóm tắt ngắn gọn nguyên nhân Nhóm làm phim chúng tôi được tiếp đón trân trọng. Chúng tôi cảm động ngây ngất.

Chúng tôi ăn uống vui vẻ, chạm cốc, chúc tụng nồng nhiệt, hỏi thăm chân tình…. Anh Chủ quán đứng dậy gõ cái thìa vào cốc thủy tinh, xin mọi người vài phút im lặng. Anh nêu chuyện tôi làm phim hoàn toàn là tự nguyện và bằng kinh phí cá nhân, không có bất kỳ sự hỗ trợ tài chính nào của bất kỳ tổ chức nào, ở bất kỳ đâu! Anh nhấn mạnh:

“Nguyễn Văn Vĩnh là một nhân tài xuất chúng của lịch sử văn hóa Việt Nam, việc dựng lại chân dung một danh nhân như vậy là rất cần thiết, không phải chỉ với con cháu của gia tộc, mà còn có ý nghĩa cho cả chúng ta. Vợ chồng tôi đã trao đổi với nhau, và nhận thấy chúng ta cần hỗ trợ, giúp anh Bình hoàn thành công việc này. Tôi xin đứng ra kêu gọi bà con, những người yêu quý quê hương, trân trọng lịch sử đất nước, và kính trọng cụ Vĩnh, cùng nhau mỗi người một chút, ủng hộ anh Bình. Trước mắt, vợ chồng tôi xin có một ít gửi anh Bình, hỗ trợ Nhóm làm phim. Khi nào chúng tôi thu nhận được, chúng tôi sẽ thông báo và chuyển đến anh Bình, để mong cho anh hoàn thành được ý nguyện, và chúng ta sẽ sớm được xem bộ phim về học giả Nguyễn Văn Vĩnh”.

Anh trao cho tôi chiếc phong bì (400 EUR) và nói thêm, đây chỉ là chút ít để đoàn làm phim đi tiếp đến các tỉnh phía Nam nước Pháp. Mong anh Bình và mọi người cùng hiểu tấm lòng của vợ chồng tôi. Tất cả những vị khách có mặt vỗ tay nhiệt liệt và cùng nói ra bằng lời giữa họ với nhau, rằng: đúng, đúng, cần phải giúp anh Bình, tại sao lại không có tổ chức nào hỗ trợ nhỉ….?

Tôi cảm kích sâu sắc trước việc làm của người Chủ quán và những suy nghĩ của anh về cụ Vĩnh. Tôi bất chợt cảm thấy lo lắng, cho dù cảm thấy được chia sẻ đến vô cùng trước những khó khăn đang chờ đợi tôi trên con đường dài. Tôi cảm ơn anh Chủ quán, tôi khẳng định sẽ mãi biết ơn cái thiện tình của mọi người đã vượt ra ngoài khả năng tưởng tượng của tôi. Tôi cảm ơn sự hiểu biết và quý trọng của mọi người hiện đang có mặt tại bữa tiệc về chủ đề học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Tâm trạng của tôi thật sự phấn khích, như được tăng thêm rất nhiều ý chí và niềm tin, rằng chúng tôi sẽ đạt đến cái đích của sự quyết tâm.

Sau này, bằng văn bản, tôi thông báo lại với các thành viên của gia tộc chúng tôi về những tấm lòng quý hóa và thực sự chân thành này của mọi người đối về đề tài Nguyễn Văn Vĩnh, vẫn có đôi ba người không ý thức được hết cái giá trị tâm linh của những hành xử này, thậm chí còn có người coi đó là chuyện bình thường…!

Từ phải sang trái: Tiến sĩ Nguyễn Phương Ngọc, đạo diễn Trần Văn Thủy, Nguyễn Lân Bình và giáo sư Trịnh Văn Thảo.

Ảnh chụp năm 2006 tại vườn sau nhà riêng của giáo sư Trịnh Văn Thảo ở TP. Aix en Provence-Pháp.

Năm 2008, bộ phim “Mạn đàm về Người Man di hiện đại” đã ra đời được 1 năm. Tôi nhận được lời mời của Tổ chức Adaly và Hội đồng Nhân dân thành phố Montpellier, mời sang dự lễ kỷ niệm ngày Quốc tế Pháp Ngữ Francophony 20/3, do Các Viện Đại học ở Montpellier và Tổ chức ADALY chủ trì. Đồng thời trình bày bộ phim tài liệu về Nguyễn Văn Vĩnh tại buổi lễ này. Tôi lại có dịp đến nước Pháp.

Chúng tôi lại có dịp được gặp người Chủ quán ăn ở Paris.

Chúng tôi đồng ý với anh Chủ quán và một số bạn bè của anh, rằng sẽ tổ chức xem phim ngay tại quán theo nguyện vọng của họ. Đây là điều mà tôi thực sự không muốn, vì bộ phim của chúng tôi cần phải được trình bày trong một không gian có những điều kiện nhất định, cần được yên tĩnh, như thế mới giúp được người xem theo dõi một cách hệ thống, vì bộ phim dài 4 tập, đề tài học giả Nguyễn Văn Vĩnh lại đồ xộ và nhiều chi tiết phức tạp. Xong tôi vẫn thực hiện.

Sau buổi chiếu, anh Chủ quán lại mời chúng tôi dùng cơm thân mật. Trước khi vào bữa ăn, anh mời tôi ra một chỗ riêng. Anh trình bày với tôi như thế này:

“Anh Bình ơi, lần trước khi các anh đến đây, tôi có hứa với anh là tôi sẽ đứng ra kêu gọi sự giúp đỡ của mọi người ủng hộ anh làm phim. Mọi người sẵn sàng anh ạ, nhưng có hai người có thái độ e ngại, thiếu sự đồng tình (tôi nhớ hai người này ở đâu, xong xin không nêu trong bài viết này.T/g), họ nói với tôi ý kiến như thế này:

‘Phải khẳng định là cụ Vĩnh đã để lại rất nhiều những đóng góp giá trị cho chữ viết tiếng Việt, cho nền văn hóa chữ Quốc ngữ, cho nền công nghiệp in ấn và xuất bản sách báo. Nhưng tại sao những người Cộng sản lại quy kết cụ theo Tây?! Chúng tôi nhận thấy, hình như ý kiến này có cơ sở, bởi lẽ, nếu không theo Tây, thì làm sao cụ Vĩnh lại giàu thế? Cụ có biệt thự này, có cả Nhà in này….’. Thành ra, tôi không dám kêu gọi sự giúp đỡ nữa, chứ mọi người nhiệt tình mà. Theo anh thì mình làm sao đây?!”.

Nghe anh Chủ quán nói xong, tôi thấy lòng dạ mình rối bời. Tuy nhiên, tôi rất cảm ơn ý kiến này của hai người Việt kiều nọ, mà anh Chủ quán đã truyền đạt lại với tôi, bởi lẽ, vào thời khắc đó, tôi mới thực sự cảm nhận được cái trách nhiệm to lớn và khủng khiếp của một kẻ dấn thân.

Tôi từng nói với rất nhiều người khi có những cuộc gặp gỡ, trao đổi, tâm sự về đề tài học giả Nguyễn Văn Vĩnh, rằng để làm rõ mọi điều, đây là đề tài phức tạp nhất, khó nhất trong lịch sử văn hóa cận đại ở Việt Nam! Làm việc này, cần phải rất kiên nhẫn và bình tĩnh trước bất kỳ một thách thức nào, của bất kỳ ai và đến từ bất kỳ đâu.

Không nhận được sự hỗ trợ về tài chính ở đâu đó, nhưng ơn Trời, tôi vẫn đã cho ra đời được bộ phim. Dù gì tôi cũng đã làm được một việc không một ai tin!

Nhưng những vấn đề sinh ra sau khi bộ phim ra đời, còn nặng nề, phức tạp hơn rất nhiều trong việc xử lý và đối phó, so với giai đoạn lúc làm phim. Tôi phải làm rõ tất cả những phản ứng mặt trái của vấn đề, những quan điểm có tính phủ định. Tôi có nghĩa vụ phải tìm hiểu đến tận cùng của mọi phản ứng xã hội, kể cả của một vài người thân trong gia tộc, và tôi quyết định, khi về Việt Nam, tôi sẽ điều tra những gì liên quan đến những ý kiến đó, để chứng minh rằng, họ đã sai!

Vào bối cảnh ấy, còn có một vị giáo sư Việt kiều danh tiếng ở Paris, đã tìm đến để “tặng” tôi cuốn sách của tác giả Nguyễn Văn Trung, cũng danh nghĩa là giáo sư, xuất bản ở Sài Gòn năm 1969. Trong sách có nhiều quan điểm rất tệ hại và vô căn cứ, phủ nhận những giá trị mà Nguyễn Văn Vĩnh đã thực hiện, cùng những sự mỉa mai, bài bác chữ Quốc ngữ, và phong trào vận động người Việt Nam sử dụng chữ Quốc ngữ ở giai đoạn đầu thế kỷ 20.

Tôi sẽ và phải làm rõ quan điểm của họ, vì tôi vẫn thờ câu nói: Thà đi tìm kiếm sự thật suốt một đêm, còn hơn phải nghi ngờ nó suốt một đời của Karl Mác.

Bà Lucie Vachier – Giám đốc Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại Quốc gia Pháp CAOM (người ngồi giữa, áo hoa).

Ảnh chụp buổi làm việc giữa Nhóm làm phim với bà Giám đốc về đề tài Nguyễn Văn Vĩnh năm 2006 tại CAOM

Qua một chặng đường không ngắn, nhưng cũng chưa gọi là dài, biết ơn Tạo hóa, Trời, Phật và các Thánh thần, cùng những người có tấm lòng quý hóa và nhân ái, tôi đã lần lượt có được trong tay rất nhiều tư liệu quan trọng, chính xác, nguồn gốc rõ ràng và thật sự hùng hồn, chứng minh Nguyễn văn Vĩnh là ai? Là con người như thế nào? Nguyễn Văn Vĩnh tại sao lại bị bôi nhọ, bóp méo và bị đày đến chỗ phải chết… chỉ có cách phải chết, mới hả lòng những kẻ đối lập, những kẻ nhỏ nhen, những kẻ giống như loài cú luôn luôn sợ ánh sáng! Tôi biết, “người ta” sợ Nguyễn Văn Vĩnh vì tài năng xuất chúng, vì sự khảng khái, chân thực, và không màng danh lợi của ông!

Trong số muôn vàn tư liệu hiện có, nhân việc nói đến chuyện Nguyễn Văn Vĩnh có phải là người của Chính phủ Thuộc địa không? Nguyễn Văn Vĩnh bị Thực dân thù ghét từ bao giờ? Nguyễn Văn Vĩnh bị ức hiếp đến đâu trong cái giai đoạn xã hội chính trị Việt Nam đang hình thành những dạng thức mới? Lần này, chúng tôi chỉ xin gửi đến các quý vị độc giả một trích đoạn, trong bài phỏng vấn của một nhà báo người miền Trung có tên là Đào Hùng, đăng trên tờ báo nổi tiếng Phụ nữ Tân văn ở Sài Gòn, số 91 ngày 16/7/1931.

Chúng tôi thật sự tin rằng, đoạn tâm sự này của học giả Nguyễn Văn Vĩnh tạm đủ để hai người Việt kiều ở đâu đó, có chút cơ sở giải đáp cái thắc mắc về chuyện Nguyễn Văn Vĩnh có giàu thật không? Có phải theo Tây không? Có nên được chia sẻ không?

Thế mới biết, những người làm chính trị đã thắng lớn khi thực hiện chính sách: Điều không có thật, cứ nói đi nói lại, nó sẽ là thật!

Từ phải sang trái: ông Nguyễn Khánh Hội, ông Trịnh Xuân Phú, bà Phan Thị Minh Lễ. Ảnh chụp năm 2006

Tannamtu.com

NGUYỄN LÂN BÌNH

PHỤ NỮ TÂN VĂN TỪ NAM RA BẮC

(số 91 ngày 16/7/1931)

 

ÔNG NGUYỄN VĂN VĨNH đối với vấn – đề Lập – hiến của ông Quỳnh.

Đào Hùng

(Nguyên văn trích đoạn)

Ở ngay giữa thành phố Hà-nội, mặt tiền trông ra hồ Hoàn-kiếm, một tòa nhà lầu đứng nghêng ngang như có ý phô bày trước con mắt muôn người qua lại cái vẻ lớn lao hùng vĩ. Trên các khung cữa đều có gắn những chữ bằng đồng chói lọi như: Trung-Bắc Tân văn, Học-báo, Âu-tây tư tưởng, Niên-lịch thông-thơ, vân vân …. Tầng dưới là cữa hàng bán sách vở, liếc mắt ngó qua thì thấy nào là “Ba người ngự lâm pháo thủ”, “Những kẻ khốn nạn”, nào là “Nho-giáo”, “Kim Vân-Kiều” và các sách dịch về Âu-tây tư-tưởng.

Tầng trên lầu là tòa-soạn báo Trung-Bắc Tân-văn, Học-báoL’Annam Nouveau, người làm đông đúc, tiếng máy chữ rền tai, rỏ là nơi công việc bộn bề, khác với cảnh tĩnh mịch trong tòa soạn báo Nam-phong cũa ông Phạm-Quỳnh. Thấy cảnh đủ biết tánh người, khác nhau như đen với trắng, bên ưa hoạt-động, bên thú êm đềm, vậy thì hai bên không hợp-tác được với nhau cũng không lấy chi làm lạ, và người khởi xướng lên vấn-đề Lập-hiến, người tán dương vấn-đề Trực-trị cũng là lẻ thường vậy.

Nguyển-văn-Vĩnh tiên-sanh đang ngồi nơi bàn giấy đọc các thơ từ thì chúng tôi vào thăm. Tiên-sanh năm nay tuổi đã ngủ tuần mà người coi sức lực mạnh mẻ lắm. Diện mạo khôi ngôi, đôi mắt long lanh sáng suốt; cữ chỉ tự nhiên, nói cười vui vẻ, trông rõ ra người có tư-chất thông minh, đã từng trải thế-sự, am hiễu nhân-tâm nhiều lắm. Xuất thân cũng chỉ là một viên thơ-ký cỏn con, ngày hai buổi đi mài trôn cạo giấy ở nơi công-sở. Song vốn tánh ưa hoạt-động kinh doanh, nên lấy cảnh sanh-hoạt trong phạm-vi bốn bức tường là không vừa ý, tiên-sanh mới tìm cách tháo-lui đễ bước lên chốn văn-đàn và sang đường thực-nghiệp.

Bắt đầu thì dịch tiễu-thuyết Tam-quốc-chí, rồi lần lần mở các báo Đông-dương Tạp-chí, Trung-Bắc Tân-văn, Học-báo và phiên dịch các sách Âu-tây. Hơn hai mươi năm trời nay, tiên-sanh thật đã là người có công với quốc-văn và học-thuật nước nhà. Nhiều lần có chân trong Hội-đồng thành-phố, trong viện Dân-biễu, và năm 1929 được Chánh-phũ cữ vào một ghế trong Đại-hội-đồng Kinh-tế và Tài-chánh (Grand Conseil des Économiques et Finaciers Intérêts) cùng với ông Phạm-Quỳnh. Cũng như các người khác, tiên-sanh không bàn bạc được điều gì đáng ghi vào sữ-sách, vì cái chế-độ riêng của xã-hội ta nó bó buộc và làm giới-hạn cho đường ngôn-luận, song tiên-sanh hơn các người khác là không có bao giờ lợi dụng cái danh nghĩa hội-viên, hay cái thế-lực tờ báo mà cầu xin cái huy-chương, cái phẫm-tước.

Ngôi nhà Hồng Vân-Long Vân (tên gọi sau hòa bình lập lại 1954) trước quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, nhìn ra Hồ Hoàn Kiếm. Đầu những năm 30 thế kỷ trước, là ngôi nhà do Nguyễn Văn Vĩnh thuê để làm tòa soạn báo như trong lời kể của nhà báo Đào Hùng. Ảnh cắt từ clip quay năm 2006.

Ở trong xã-hội ta được người như thế cũng đã đáng khen, còn như nói không lợi dụng cái địa-vị cao-trọng của mình mà cầu việc tư ích họa chăng tôi mới biết có ông Nguyễn Phan-Long ở trong Nam-kỳ là một (rồi đây sẽ có bài nói về ông Nguyển Phan-Long).

Năm 1930, ông Phạm-Quỳnh có xướng lên vấn-đề Lập-hiến cho nước Nam làm cho dư-luận phân đôi, kẻ tán-dương, người phản-đối, và nhân đấy ông Nguyển-văn-Vĩnh đứng lên làm lãnh-tụ một đãng để công-kích cái chương-trình Lập-hiến cũa ông Quỳnh. Báo Annam Nouveau của tiên-sanh xuất-bản hồi đầu năm nay là vì duyên cớ đó.

PHÂN TRẦN VỀ MẤY ĐIỀU QUỐC-DÂN CÔNG-KÍCH

Trước khi hỏi ý-kiến tiên-sanh đối với vấn-đề Lập-hiến cũa ông Phạm-Quỳnh (khi chúng tôi lại phỏng-vấn tiên-sanh thì báo Annam Nouveau chưa xuất bản) thì chúng tôi nói đến câu chuyện người ta công-kích tiên-sanh về các công việc cũa tiên-sanh làm, từ sách vở báo chí cho tới việc kinh doanh thương trường đều có người mở đầu, có tiền trợ-cấp cã. Đại ý tiên-sanh nói:

“Người ta thấy công việc tôi làm có bề thế lớn lao, thì tưởng tôi là con cưng cũa Chánh-phủ, bao nhiêu cơ đồ sãn-nghiệp đều là nhờ Chánh-phủ tác-động cho cả, chớ có biết đâu là tôi ngày đêm lo phải tính toán công việc cho khỏi thua lổ, lúc lo đầu nầy lúc chạy đầu kia, ăn nghĩ chẳng có thời giờ, thiệt bát cơm đỗi bát mồ hôi, nào phải đâu an-nhàn mà tọa thực. Trước kia tôi là một viên thơ-ký cỏn con, lương bỗng mỗi tháng được 12$50, vậy lấy đâu làm vốn lớn mà kinh doanh? Lúc mới bước chân vào trường thực-nghiệp, tôi phải cố nhà cố đất đễ lấy chút vốn xuất-thân”.

“Năm 1918 cái nhà in Trung Bắc Tân-văn và khu đất rộng ở đường hàng Bông cũa ông Schneider đáng lẻ thuộc về tôi làm chủ, mà thành ra Chánh-phủ mua giành, trả giá hết thãy là 13.000$ và cho tôi mướn lại đễ kế nghiệp ông Schneider chủ-trương tờ báo Trung Bắc Tân-văn. Trong ba năm đầu tôi phãi trả tiền mướn mỗi năm có một đồng, tới hai năm sau tiền mướn tính lên 1.200$ một năm. Rồi Chánh-phũ đem bán đấu giá hết thảy, tôi tranh nhau với người ta tôi mới mua được, chớ đáng phãi Chánh-phũ định bán tư cho tôi. Riêng những đồ trong nhà in tôi phãi trã tới 18.000$, còn miếng đất 2.960 thước vuông ở đường hàng Bông theo giá bây giờ thì cũng đáng 100.000$ song Chánh-phũ mua gồm với cái nhà in lúc trước, giá có 8.000$ hết thãy, miếng đất ấy thì Chánh-phũ bằng lòng đỗi cho tôi lấy một khu đồn điền rộng 5.000 thước vuông giá đáng 20.000$ lúc đó, và thêm một món tiền cấp là 12.000$ mà tôi phãi trã cho Chánh-phủ.

Thế là tôi làm lời cho Chánh-phủ 37.000$. Món tiền lời đó đáng lẻ về phần tôi được hưởng, vì hồi đầu chính quan cựu Toàn-quyền Sarraut bảo tôi điều đình với ông Schneider tức là chủ-nhơn tôi, thì ông nầy đã chịu nhận lời bán cho tôi, về sau đến lúc việc gần xong, thì người ta lại kiếm những cớ chánh-trị buộc vào cho tôi để ngăn trở cho việc không thành. Xem một việc đó thì đủ biết tôi có phải là con cưng của Chánh-phủ không?”

“Còn những việc trợ-cấp các báo Trung Bắc Tân-văn, Học-báo và các sách về Âu-tây tư-tưởng là tự Chánh-phủ cho chớ không phải tôi luồn cúi mà nài xin bao giờ. Các báo và các sách đó có tiền trợ-cấp, tất là của Chánh-phủ, vậy tôi chĩ là một người làm công và một người nhận việc in mướn, xuất-bãn giùm thôi.

Nguyễn Văn Vĩnh những ngày cuối cùng tại rừng Lào, nơi có những người bản xứ là phu đào vàng bên bờ sông Sê Băng Hiêng (nhánh của sông Sepon).
Những bức ảnh này do ai chụp? Chụp với mục đích gì?
Gia đình Nguyễn Văn Vĩnh nhận được gần chục bức ảnh tương tự của Nguyễn Văn Vĩnh tại nơi rừng Lào, khi chính quyền địa phương trao trả thi hài Nguyễn Văn Vĩnh để chuyển về Việt Nam đầu tháng Năm 1936.

Chánh-phủ trợ-cấp cũng là vì một lẽ muốn thâu nạp lợi dụng mấy người biết ăn biết nói – như báo Nam-Phong cũa ông Phạm-Quỳnh cũng vậy – song về phần tôi biết đâu lại chẳng lợi-dụng lại được cái cách-thế ấy sao? Tôi phiên-dịch các sách Âu-tây kim cỗ, có những tư tưởng hay để phỗ-thông trong nước cho các hạng người không biết chữ Pháp cũng được biết tới cái tinh hoa tư-tưởng cũa các nước văn-minh mà thâu nhập làm cũa mình để tiến-hóa. Hơn 20 năm nay, nghĩa là từ năm 1907 tới giờ, tôi dịch có tới 30 pho sách Âu-tây, toàn là những bộ có giá-trị về văn-chương  và tư-tưởng cã, tưởng đối với quốc-văn và học-thuật nước nhà, tôi cũng không phải là người lãnh-đạm vậy. Trong khi tôi dịch và xuất-bản các sách đó thì không có hề cầu xin ai giúp đở hay trợ cấp đồng nào. Mới có hồi mấy năm trước đây, quan Toàn-quyền Pasquier sang chơi bên Nam-dương quần-đảo (Indonexia. B/t), thấy Chánh-phủ thuộc địa bên đó mở một cái tu-thơ kêu là Volkslecture phiên dịch các sách Âu-tây đễ truyền bá tư-tưởng cho dân thuộc-địa, nên khi trở về Đông-pháp (Đông dương thuộc Pháp. B/t) mới bàn với tôi mở ra cái thơ-viện về Âu-tây tư-tưởng đó.

Tuy vậy mà lúc nầy tôi cũng không muốn tái bản các sách dịch đó nữa, vì dân trí mỗi lúc một khác, sự tiến-bộ ta phãi theo luôn; trước kia thì tôi muốn phiên-dịch, nhưng nay thì ý tôi muốn đem cái kết quả các điều tôi đã sưu tập bấy nhiêu lâu mà dung hợp theo cái trình độ tiến hóa của quốc dân”…..

Sao chép và hiệu đính kỹ thuật: Nguyễn Lân Bình.

2 Responses

  1. Bình ơi, tôi đọc bài này tôi càng thấm thía cụ là người đi trước thời đại bấy giờ & kể cả ngày nay mà người hiếm hoi như thế mấy khi được mọi người đánh giá đúng nhất là xã hội hiện nay 1 cái cộng đồng người mà nhiều khi tôi cũng không hiểu họ tôn sùng cái gì
    Thanh Vân

  2. Hình như các vĩ nhân khai sáng cho nhân loại đa phần đều lận đận .Đương thời ,Khổng Tử có được trọng dụng đâu ? Cụ Vĩnh khác ,cụ không cần trọng dụng .Cụ cần phương tiện để có thể quảng bá chữ Quóc ngữ dùng cho người Việt .Từ đó ,Cụ muốn khai mở dân trí thoát khỏi u mê lạc hậu .Tiếc thay ,một vài người không hiẻu nên trở thành vô ơn .Cảm ơn tác giả .

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  
July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  

Social Network