Minh chứng cho việc Đăng Cổ Tùng Báo (1907) là cơ quan ngôn luận của Đông Kinh Nghĩa Thục

(Bài viết nhân kỷ niệm ngày sinh lần thứ 133 của học giả NGUYỄN VĂN VĨNH 15.6.1882-15.6.2015)

nguyễn văn vĩnh


Đối với quá khứ, bất luận là lĩnh vực nào đều có thể tạo ra những hiểu biết phức tạp, nhiều chiều cho hậu thế, thậm chí có thể gọi là mâu thuẫn, đây là cái lý để sinh ra các nhà chuyên môn, nghiên cứu đem những kết quả lao động của mình giúp xã hội nhìn lại quá khứ một cách thực chất nhất, công bằng nhất. Trường hợp nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh là một điển hình của những điển hình xét từ góc độ sự thật.

Hầu hết những nghiên cứu của các thế hệ đi trước về Đông Kinh Nghĩa Thục (ĐKNT) 1907, đều bộc lộ những khía cạnh có tính thiên kiến nhất định. Thế hệ cùng thời với Nguyễn Văn Vĩnh, khi nhận định về vai trò của ông trong ĐKNT, có hai cách nhìn khác nhau phụ thuộc vào xuất thân của họ.

Thứ nhất: Với những người chịu ảnh hưởng Nho giáo, mang nặng tư tưởng phong kiến bảo thủ, họ ghét sự có mặt của người Pháp thực dân ở hầu hết mọi phương diện, không loại trừ bất kể đối tượng nào. Theo họ, Nguyễn Văn Vĩnh là một viên chức của Tây, nói năng lưu loát tiếng Tây, lối sống và tư tưởng mới quá, Tây quá, khác rất xa với tác phong của một dân tộc mang tư duy Khổng giáo, sống bằng quan niệm “đất lề, quê thói”, không chấp nhận khái niệm bình đẳng. Những nhân vật có vai vế trong hệ thống cai trị, ác cảm khi phải chứng kiến các buổi diễn thuyết của Nguyễn Văn Vĩnh ở ĐKNT vì nội dung đã vạch trần những thói tệ hủ tục được ngụy trang là “phong tục”, cơ sở để tầng lớp quyền lực đó làm giàu. Rồi lối sống ban phát, bòn rút của những kẻ có chức tước, thường tự coi mình là “bề trên” của những người lao động nghèo khổ. Phần đông trong đội ngũ này (nhân sự trong hệ thống cai trị của bộ máy quan lại, đa phần là hệ quả của hệ thống giáo dục khoa cử) không thích Nguyễn Văn Vĩnh!

Thứ hai: Với những người chịu ảnh hưởng tư tưởng duy tân, Tân học. Đội ngũ này thực sự khát khao một nền tự do có tính giải phóng. Họ cảm nhận được cái tích cực của nhận thức văn hóa khoa học, họ thống nhất nhận định, sự cản trở quá trình tiến hóa xã hội chính là hệ tư duy phong kiến với những tập tục cổ hủ, lạc hậu. Những người này tuy tiếp cận được với một phần của tư tưởng, lối sống văn minh phương Tây, nhưng họ bị bối rối trước thực trạng, vốn tri thức đó, họ đã phải nhờ chính sự có mặt của những người Pháp, danh chính là kẻ xâm lược. Vì thế, việc họ quan hệ với Nguyễn Văn Vĩnh, số đông ở những giới hạn nhất định. Thực chất, họ không có điều kiện để hiểu rõ và hiểu hết tư tưởng và con người ông, đặc biệt là vai trò của ông qua con mắt của người Pháp. Vì vậy, khi phong trào bị khủng bố, Nguyễn Văn Vĩnh bị ngờ vực về tính trung thực, đã không có người nào đủ bản lĩnh, đủ hiểu biết để bênh vực ông một cách dứt khoát như ông đã làm một cách cương quyết khi bênh vực Phan Châu Trinh (1) trước hệ thống cường quyền.

Sinh ra trong một xã hội còn quá mê muội như giai đoạn lịch sử cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Nguyễn Văn Vĩnh có lối tư duy khác hẳn những người cùng thời. Nhãn quan xã hội của ông rất giản dị và thuần túy. Ông đã tự cho rằng, mình phải can dự vào công cuộc cải tạo xã hội này để giải phóng người dân khỏi sự tối tăm về văn hóa, sau khi ông được tiếp cận với nền văn minh phương Tây nhờ việc thông thạo tiếng Pháp một cách tuyệt đỉnh. Một mặt, ông biết ơn cái thứ ngôn ngữ đã làm cho mình “mở mắt”, mặt khác, ông thận trọng trong việc gắn kết sự nghiệp mà mình theo đuổi trước những “ân sủng” từ Nhà Cầm quyền.

Chính nhờ những nhận thức thuần túy và trong sáng về lý tưởng và mục tiêu cách mạng, Nguyễn Văn Vĩnh không khi nào tỏ ra nao núng trước những quan điểm và ý kiến ngược chiều trong xã hội. Ông cũng chẳng thất vọng khi không thấy ai dám “bênh” mình trong cơn bĩ cực đó. Ông đơn giản đến mức, từ năm 1905, ông đã tự nhận mình là Tân Nam Tử ( Người Nam mới).

Với hai tầng lớp đại diện cho xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX như nói ở trên, cộng với nền hành chính quan liêu, nửa thực dân, nửa quân chủ, nên sau khi ĐKNT không còn, việc nhìn nhận và đánh giá toàn bộ phong trào cách mạng này của những thế hệ đi sau bị thiếu tính biện chứng và chưa thật toàn diện. Kể cả cho đến hôm nay, sau hơn một thế kỷ, thực tế này vẫn tồn tại.

Mặt khác, do trình độ, khả năng quan sát xã hội ở thời điểm đó của những người có trách nhiệm còn thiếu cả tính khoa học, cộng với sự quá khích của một thể chế quân phiệt kèm theo cả một phần chủ ý che đậy những sự thật nhạy cảm của lịch sử theo quan điểm của các thế lực cai trị, nên những lực lượng đi sau không có điều kiện để phán xét mọi việc một cách khách quan, chưa nói đến ảnh hưởng của tư tưởng duy ý chí của những chủ thuyết chính trị sau này, cũng như gần đây, nên việc kết luận chính xác, với thái độ công khai để vinh danh phong trào cách mạng nặng tính dấu ấn này chưa được đúng tầm.

Nguyễn Văn Vĩnh nằm sâu trong toàn bộ vòng xoáy xã hội, chính trị này !

Cần nhìn nhận thẳng thắn rằng, đầu thế kỷ XX, khi người Việt còn chưa có chữ viết chính thức, lấy đâu ra nền tri thức tiến bộ?! Không có một xã hội tri thức, dù là mới mẻ hay non nớt, làm sao để tạo ra được những hệ tư tưởng làm cơ sở để thay đổi xã hội?! Thực tế của giai đoạn lịch sử này, nền luật pháp Thực dân, cộng với cách nhìn miệt thị về người dân bản xứ do tính văn hóa thấp, việc Nhà Cầm quyền không cấp phép cho người bản xứ làm truyền thông vì sợ nền dân trí phát triển, đâu có gì khó hiểu. Nguyễn Văn Vĩnh “ngồi” được vào cái ghế là Chủ bút một tờ báo đương nhiên không phải chỉ đơn thuần là người đi tìm miếng cơm, vì nếu chỉ cần cơm và áo, làm sao ông từ bỏ Tòa Đốc lý Hà Nội khi còn là chàng trai 24 tuổi, nơi ông có đến 30 đồng bạc Đông Dương lương tháng, mà một bơ gạo chỉ mua bằng tiền chinh (10 chinh = 1 xu, 10 xu = 1 đồng, 1 đồng = 5 francs)!

Trải qua năm tháng, thông qua nội dung của các văn bản ghi lại những ý kiến khác nhau về vai trò chính trị, xã hội của Nguyễn Văn Vĩnh trong ĐKNT, cụ thể là người đã đứng chịu trách nhiệm pháp lý trước Nhà Cầm quyền Thực dân trong việc xin phép mở ngôi trường học đầu tiên ở Bắc kỳ do cụ cử Lương Văn Can làm Thục trưởng (Sự việc cố tình không được nêu trong các tài liệu chính thức), việc là Chủ bút tờ báo tiếng Việt đầu tiên Đăng Cổ Tùng Báo… Vậy nhưng đã có không ít những quan điểm tiêu cực, cũng như cách nhìn thiển cận về vai trò của ông. Thậm chí, do sự hiểu biết quá ít ỏi và ấu trĩ của những người đứng ngoài, nên việc Chính quyền không bắt giam được Nguyễn Văn Vĩnh (vì ông là hội viên Hội Nhân quyền Pháp 1906) khi khủng bố ĐKNT, đã có ý kiến của những người tai mắt thời đó mỉa mai rằng: “Cháy nhà, con chuột nào chạy được cũng tốt…!”.

Có rất nhiều dẫn chứng mà một số người quan sát không có đủ kiên nhẫn để lục lọi lại quá khứ, để nhìn lại sự việc theo tính hệ thống khách quan trước khi bài bác một điều gì đó, hay một người nào đó trong quá khứ. Đó là chưa nói đến việc những người được coi là “yếu nhân” đó đã để lại những phát ngôn mà các thế hệ theo sau khi tìm hiểu lại bị lệ thuộc vào lối tư duy sùng bái, khi đã coi cái này là nhất thì những cái khác dù ý nghĩa đến đâu cũng vẫn bị xem là vô giá trị.

Nhân bàn về một khía cạnh của phong trào ĐKNT 1907, chúng tôi chỉ xin đăng lại toàn bộ một bài báo nói về việc Nhà Cầm quyền đã bắt giữ một chí sĩ nổi tiếng lúc đó là Ngô Đức Kế (1878-1929), được đăng trên Đăng Cổ Tùng Báo số 818, ra ngày 19.9.1907 tại Hà Nội, mục đích để giúp người đọc có thêm cơ sở nhận thức tính chính trị của tờ báo, tính phản kháng của dư luận và tính dũng cảm của người chịu trách nhiệm khi đăng bài viết có tính kiến nghị này trước thế lực cầm quyền đầy quyền lực. Qua đây, cũng để hiểu được rõ hơn vì sao những nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa, chính trị gần đây nhất đã gọi: “Đăng Cổ Tùng Báo là cơ quan ngôn luận của Phong trào ĐKNT”.

63505023

Quảng trường ĐKNT bên bờ hồ Hoàn Kiếm-Hà Nội, một địa danh, một di tích duy nhất ở Việt Nam có hiệu nhưng không có biển, mặc dù đã có nhiều kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm trong thời gian dài!

(nguồn ảnh: Internet)

Đã hơn một thế kỷ trôi qua không thể tiếp tục lối suy nghĩ “chuyện ngày xưa ấy mà”, từ đó phủi tay với lịch sử, thiếu tôn trọng sự thật, đồng thời hành xử như vậy là bất công đối với tiền nhân và cũng là sự thiếu nhân cách của kẻ hậu thế.

Trong một cuộc trò chuyện giữa Đức Đạt Lai Lạt Ma (Giải Nôbel về Hòa bình 1989) với một vị thần học danh tiếng người Brazil là Leonardo Boff (1938), Đức Đạt Lai Lạt Ma đã diễn giải về nhân cách và ý nghĩa của sự thật đối với con người như sau:

“…Hãy chú trọng Nhân Cách vì nó hình thành Số Mệnh,

và Số Mệnh của anh sẽ là Cuộc Đời của anh.

Không có tôn giáo nào cao trọng hơn Sự Thật.”

===================

Chú thích:

(1) Nguyễn Văn Vĩnh là người Việt Nam duy nhất cùng ba người Pháp ký tên vào kiến nghị đòi Nhà Cầm quyền phải thả Phan Châu Trinh vì vô tội (Gs. Sử học Nguyễn Huệ Chi phát biểu trả lời phỏng vấn trong bộ phim “Mạn đàm về Người Man di hiện đại”).

BBT.Tannamtu.com.

Nguyễn Lân Bình.



Đăng Cổ Tùng Báo số 818 ngày 19.9.1907

VIỆC VẶT Ở CÁC TỈNH

Vinh

Bản-báo có tiếp được thư sau này:

Tôi là Nguyễn-văn-Tú, ở tỉnh Vinh, có nhời kính thưa ông chủ bút chữ tây tòa-báo Đăng-cổ, nói những sự như sau này: Nước Nam tôi bây giờ thấy Nhà-nước bảo-hộ có lòng mở trí cho dân nước Nam, đã có lập ra tân-học, thương-hội và các việc lợi- ích cho dân, bởi thế những người thân-sĩ tỉnh tôi cũng có làm ra sự học sự buôn để khai trí chí sinh mà thôi. Thế mà đến ngày 27 tháng bẩy An-Nam thì thấy bắt Tiến-sĩ là Ngô-đức-Kế và Cử-nhân hai người, Tú-tài ba người, học-trò hơn mười người, hiện hãi còn đương nã bắt nữa, và như Cử-nhân là Đặng-văn-Bách hiệu Dương-dân-năng cũng bắt cho vào dam cả, bảo rằng những người ấy là thông với bọn ăn- cướp; thực là không có chứng cớ gì, cũng không thấy hỏi han gì, cứ dam từ ngày ấy đến bây giờ. Nhưng sự ấy tôi tưởng không phải là ý Nhà-nước như thế, bởi xưa nay Nhà-nước bảo-hộ đãi dân An-nam các sự đều là tử-tế cả, không có những sự vô lí thế bao giờ. Chắc hẳn là bởi tại quan An-nam một vài người muốn cầu công mấy Nhà-nước, mà làm ra sự thế. Xin Nhà-nước sét lại cho, kẻo sợ dân tình dao-động, sinh ra sự không yên, bởi thế tôi xin ông Chủ-bút đem nhời này vào báo cho, chúng tôi cảm ơn ông lắm lắm.

NGUYỄN-VĂN-TÚ.

Tóm tắt:

Ngo_Duc_Ke


Ngô Đức Kế sinh năm 1878 và mất năm 1929. Tên thật của ông là Ngô Bình Viên, lấy hiệu là Tập Xuyên.

Ngô Đức Kế là người ở huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Cha ông là quan trong Quốc sử quán triều Nguyễn.

Năm 1901, Ngô Đức Kế thi Đình và đỗ Á khoa, tuy nhiên ông không ra làm quan mà ở nhà dạy học và liên hệ với Phan Bội Châu. Ông phản đối lối học từ chương, cử nghiệp và hưởng ứng lối học mới mang tính duy tân.

Năm 1907, Thực dân Pháp bắt ông và đày ông ra Côn đảo đến năm 1921.

Năm 1922, ông làm báo và viết văn ở Hà Nội, ông là Chủ bút tờ Hữu Thanh. Ông là người cổ vũ cho duy tân và lên án quan vương triều Nguyễn gay gắt.

Ngô Đức Kế được đặt tên phố ở TP. HCM, Cần Thơ, Vinh, Nha Trang…

BBT.Tannamtu.com

==================


3 Responses

  1. Cu Nguyen Van Vinh that dang kinh trong. Con nguoi tai nang, duc do va rat co ban linh.
    Toi rat mong co dip duoc xem cuon phim ve Cu Nguyen Van Vinh.

    1. Chúng tôi rất cảm kích trước những thiện tình mà chị đã dành cho đề tài học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Xin chân thành cảm ơn chị!
      Việc xem bộ phim tài liệu về NVV, gần đây, do cuộc sống của tôi thay đổi, nên điều kiện để chiếu bất kỳ thời điểm nào không còn làm được như trước đây. Tuy nhiên, chị và một số bạn đọc nữa đã nhắc lại nhiều lần nguyện vọng xem phim, tôi cam kết sẽ tổ chức chiếu một buổi vào tháng Tám này. Ngày giờ, địa điểm topor chức, chúng tôi sẽ xin thông báo trước một tuần. Xin đề nghị chị cố gắng mời thêm 3 đến 5 người nữa cùng xem với khoảng 10 người khách của chúng tôi để buổi chiếu không lãng phí tiền thuê địa điểm.
      Một lần nữa xin cảm ơn và chúc chị sức khỏe!
      BBT tannamtu.com
      NLB.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  
July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  

Social Network