Nỗi buồn khi đọc bài “Bùi Ngọc Tấn: Không e sợ khi mùa Xuân về”. Báo Tiền Phong ra ngày 17/2/2013

 

Đã nhiều lần, trong các bài viết của mình, tôi luôn biết và nhận mình là kẻ ít hiểu biết! Xác nhận ngay từ đầu thực tế này, bởi lẽ, cũng như bao người khác tồn tại và sống trong môi trường của xã hội Việt Nam ở phần phía Bắc của đất nước, đa phần trong chúng tôi (theo tôi) đều rất đơn giản đến mức nông cạn trong nhận thức về mặt Xã hội học.

Năm 2009, do những cơ duyên của số phận, do những đòi hỏi mạnh mẽ từ những diễn biến trong đề tài văn hóa lịch sử về học giả Nguyễn Văn Vĩnh, tôi đã may mắn được làm quen với nhà giáo Phạm Toàn thông qua giáo sư Nguyễn Huệ Chi, mà biết giáo sư Huệ Chi cũng là nhờ việc tôi đi tìm ông sau khi đọc phần tóm tắt về Nguyễn Văn Vĩnh trong cuốn “Từ điển Văn học bộ mới” xuất bản năm 2004.

Năm 2009 cũng là năm bộ phim tài liệu lịch sử về cuộc đời và sự nghiệp của học giả Nguyễn Văn Vĩnh “Mạn đàm về Người Man di hiện đại” đã thực sự có chỗ đứng trong dư luận xã hội. Chính nhờ bộ phim này, tôi đã có thêm vô vàn mối quan hệ mới với rất nhiều những nhân vật thành danh trong xã hội Việt Nam đương thời. Tôi học được rất nhiều điều từ những mối quan hệ đó. Một trong những diễn biến quan trọng trong cuộc sống của tôi giai đoạn này, là thông qua nhà giáo Phạm Toàn, tôi được làm quen với Khoa Việt Nam học của trường Đại học Sư phạm Hà Nội và từ mối nhân duyên này, tôi được tiếp xúc với dịch giả Dương Tường và nhà văn Bùi Ngọc Tấn.

Cũng trong năm 2009, nhờ các cuộc tiếp xúc với giới làm văn hóa như tóm tắt ở trên, khoa Việt Nam học của trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã chia sẻ với tôi ý định về việc làm một cuốn sách, hoặc là về Nguyễn Văn Vĩnh, hoặc là của Nguyễn Văn Vĩnh. Mong muốn chính đáng này của tôi, được rất, rất nhiều người ở mọi vị trí xã hội ủng hộ…

Để trù bị cho công việc này, các vị trong khoa Việt Nam học đã quyết định tổ chức buổi gặp với dịch giả Dương Tường và nhà giáo Phạm Toàn tại tư gia của tôi, nơi có bàn thờ cụ Vĩnh và những người thân đã khuất trong gia tộc. Nội dung của buổi gặp gỡ là nhằm xác định phương thức thực hiện và cách làm cuốn sách này. Việc tham gia của nhà giáo Phạm Toàn và dịch giả Dương Tường xuất phát từ thực tế: các tư liệu, bài viết của học giả Nguyễn Văn Vĩnh có một phần rất lớn viết bằng Pháp ngữ.

Sát giờ hẹn, chúng tôi nhận được điện thoại của dịch giả Dương Tường rằng: “Mình đang có anh Bùi Ngọc Tấn từ Hải Phòng lên chơi, nếu đến cùng mình có được không?!” Có lẽ trong những người ngồi đợi ông Dương Tường lúc đó, chỉ có mình tôi là không biết rõ nhà văn Bùi Ngọc Tấn! Tôi chỉ mơ hồ rằng ông này là tác giả cuốn sách rất xôn xao dư luận, cuốn “Chuyện kể năm 2000”. Lại một lần nữa tự thấy xấu hổ, mà trong địa hạt này, tôi bị xấu hổ liên tục…

Chỉ không quá 15 phút, hai ông Dương Tường và Bùi Ngọc Tấn đã có mặt. Tôi vẫn chưa thật cảm nhận được sự vinh dự của mình khi tiếp các ông, những người tài được xã hội trân trọng, mà phải sau nhiều tháng, tìm hiểu, đọc và nghe bình luận của người đời, mới thấy được mặt nào đó cái nhân duyên của mình với những con người được gọi là thành danh đó.

Các vị khách cùng nhau thắp hương và lễ trước bàn thờ của gia tộc chúng tôi với một vẻ mặt thành kính, trân trọng. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn chỉ lên bức ảnh chân dung của bác tôi, bác Nguyễn Phổ (1917-1997) và nói: “Mình cũng được ở cùng trại giam với ông Phổ, ông ấy tốt lắm, ông ấy còn khổ hơn mình…”*. Tôi lặng người sau khi à lên một tiếng, có lẽ những người chứng kiến không ngạc nhiên vì tôi đã không dấu sự ngớ ngẩn của mình! Sau này tôi thấy mình có lỗi với những con người như ông Bùi Ngọc Tấn.

130220_phamtoan
Dịch giả Dương Tường, nhà giáo Phạm Toàn và giảng viên ĐHSP.HN Thu Nguyên thắp hương trước bàn thờ học giả Nguyễn Văn Vĩnh.

Buổi làm việc của chúng tôi sôi nổi, thân tình và cụ thể. Khi chia tay, tôi đã rất chân thành mời hai ông Dương Tường và Bùi Ngọc Tấn xem bộ phim tài liệu về cụ Vĩnh khi có buổi chiếu tiếp theo được tổ chức. Dịch giả Dương Tường khẳng định: “Kiểu gì cũng báo cho mình nhé”, còn nhà văn Bùi Ngọc Tấn thì nói: “Khó nhỉ, mình ở xa quá, chẳng biết khi nào mới có dịp. Tiếc thật…!”

130220_duongtuong
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, nhà giáo Phạm Toàn, dịch giả Dương Tường
cùng 2 cán bộ giảng dạy khoa Việt Nam học trong buổi trao đổi về phương hướng làm cuốn sách
của học giả Nguyễn Văn Vĩnh
.

Hôm nay, đọc bài viết trên báo Tiền Phong về những tâm sự đầu Xuân của nhà văn Bùi Ngọc Tấn, tôi xúc động vì kính nể ý chí của ông. Cảm ơn nhà văn Bùi Ngọc Tấn về sự lạc quan trước cuộc sống đầy áp lực mà ông đã trải qua. Nhưng tôi chạnh lòng và buồn tái tê khi nghĩ đến người bác ruột Nguyễn Phổ của tôi… Nếu nhà văn Bùi Ngọc Tấn đừng nói với tôi rằng: “Mình cũng được ở cùng trại với ông Phổ, ông ấy tốt lắm, ông ấy còn khổ hơn mình…”, có thể tôi đã không nặng lòng nghĩ suy như thế.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn bị tù từ 1968 đến 1973, lý do như thế nào, tôi và nhiều người cùng lứa với tôi đều không hiểu ?! Trong giai đoạn từ 1954 đến nay, có không biết bao nhiêu những con người phải chịu tù tội vì một lý do nào đó mà hầu như xã hội và người dân bình thường đều không hiểu được… Kể cả việc muốn được hiểu! Nhiều trường hợp, nhân dân chỉ biết những việc làm để tạo được cái nổi tiếng của những người đó sau khi người đó qua đời. Người dân bày tỏ lòng biết ơn những người đó khi hiểu rằng: người đó rất giỏi, công lao với xã hội rất lớn, nhưng bị oan! Còn vì sao bị oan thì không mấy khi dư luận hiểu được một cách thấu đáo, và để đừng nhiều người bị oan, cũng không thấy có giải pháp rõ ràng.

Nhưng theo nhà văn Nguyên Ngọc đã viết trên tạp chí “Xưa và Nay”, số Tết Ất Dậu của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, phát hành tháng 1 năm 2005 rằng: “Chuyện kể năm 2000” là Một thiên anh hùng ca! Khi tôi đọc được mệnh đề này, tôi tự luận rằng, những người bị oan, thường là người tài.

Tôi nhớ đến một kỷ niệm sâu đậm từ chiến dịch 1975 ở thành phố Đà Nẵng liên quan đến cuốn sách “Quần đảo ngục tù” hay còn gọi là “Quần đảo Gulag” giải thưởng Nobel 1970 của nhà văn Xô Viết Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn (1918-2008).

Câu chuyện thế này: Đà nẵng chính thức thất thủ ngày 29/3/1975. Theo đoàn quân cuốn chiếu, đơn vị chúng tôi được lệnh đóng quân ngay trong sân bay Đà Nẵng. Chỉ vài ngày sau khi im tiếng súng, chúng tôi lang thang ra đường ngay trước cổng ra vào chính của sân bay. Hầu như không có gì đe dọa những người lính chúng tôi, mặc dù gần như anh em chúng tôi đều nhìn mọi sinh hoạt của người dân một cách khá xa lạ. Sau vài ngày, chúng tôi nhận thấy cuộc sống của người dân đã trở nên bình thường (Mặc dù phía Nam chiến sự vẫn rất ác liệt).

Nhiều người dân bày bán đủ mọi thứ đồ vật ngay trên hè đường, hình như họ thật sự cần tiền ?! Vì chúng tôi thấy họ bày bán không thiếu thứ gì. Họ bán hàng và lấy cả hai loại tiền, tiền của miền Bắc XHCN và tiền của miền Nam tức VNCH. Trong khi đó mấy anh em chúng tôi nhìn cái gì cũng muốn mua… nhưng chẳng ai có tiền! Chúng tôi cứ dạo, người bán cứ mời. Họ mời thật lòng và khi xưng hô đều gọi chúng tôi là “các ông” một cách trịnh trọng, vì khi xưng hô, họ đều kèm theo từ “Thưa”. Tôi có lẽ là người bộ đội hy hữu dừng trước một người thanh niên bán sách cũ. Người bán sách nhảy cao chân từ bên trong sạp bày sách, ra đứng ngay trước mặt tôi với thái độ tưng bừng chào mời: “Ông Giải phóng ơi, thưa… mời ông mua cuốn này, cuốn này mới lắm, hay lắm và đoạt giải Nobel đấy ! Ông mua đi, tôi không bán đắt đâu, nó nổi tiếng thế giới mà…” Tôi nhìn rõ bìa sách với dòng chữ: “Quần đảo ngục tù”. Tôi đắc chí trong bụng vì mới chỉ trước khi bắt đầu chiến dịch 75, vô tình tôi được cùng một cán bộ cấp trên có cái radio bán dẫn (transsistor) nghe trộm đài BBC tiếng Việt, lại đúng buổi họ bình luận về cuốn sách này cùng với những diễn biến xấu trong cách hành xử của chính quyền với tác giả cuốn sách. Tôi nhớ tên nhà văn là Giôn se nitsy và người này bị “đuổi khỏi Liên bang Xô Viết”. Vậy thôi, chỉ biết chừng đó thôi… vậy mà lúc đó, tôi đã ý thức rằng: cuốn sách này là phản động !

Người thanh niên bán sách nhận thấy vẻ chăm chú của tôi khi tay tôi lật vài trang giữa cuốn sách, anh ta càng tỏ ra hy vọng rằng tôi sẽ thích và anh càng cố sức nài nỉ tôi mua. Tôi cao giọng: “Anh bảo cuốn sách này là hay à?! Hay với anh nhưng với tôi thì không! Anh hiểu chứ?! Sách này là phản động, anh biết không?! Người thanh niên bán sách hoảng hốt, chắp tay nói như van tôi: “Dạ… dạ không, thưa ông Giải phóng, tôi chỉ muốn bán lấy mấy đồng thôi vì kẹt tiền quá… Tôi không dám làm chính trị, thưa ông!” Tôi lại càng lên nước, khi biết đối phương đang hoảng loạn tâm lý. Tôi nói tiếp: “Anh không muốn làm chính trị, làm chính trị không phải là muốn hay không muốn, anh cần biết rằng: mỗi một cá thể tồn tại trong xã hội, là sản phẩm mặc nhiên của cái thể chế chính trị đó, nó mang màu sắc của cái xã hội chính trị nơi anh tồn tại. Vấn đề không phải là muốn hay không muốn. Anh rõ không?!”

Trong câu nói như có sự thoái thác của người bán sách, đã vô tình làm những người bán hàng chung quanh dồn sự chú ý sang hai chúng tôi. Khi tôi đặt lại cuốn sách xuống sạp, người thanh niên và hai, ba người dân chung quanh cùng bán đồ bảo nhau: “Cha nội này ghê quá… mà ông ta biết cuốn này, cuốn này mới không mà ???”

Chẳng rõ từ đâu sinh ra cái thái độ tự đắc của tôi? Phải biết ơn Trời Phật và các Thánh thần vì tôi vẫn nguyên vẹn sau một cuộc chiến tranh tàn khốc, để còn sống và chiêm nghiệm, để hiểu mọi sự là từ đâu?

Tôi nghĩ nhiều về kỷ niệm này, vì năm 1990, khi Nhà nước Xô Viết đã phục hồi lại quyền công dân cho nhà văn Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn, đồng thời trao cho ông giải thưởng Quốc gia Nga, tôi mới tự thấy mình phi lý. Hồi đó mình hiểu gì về tác phẩm này? Biết gì? Biết được bao nhiêu? Kể cả việc hiểu gì về con người của người thanh niên bán sách kia, để cao giọng rao giảng… Vậy mới thấm… cái tính công thần, cái tính tự đắc, tự cho mình đứng trên kẻ khác, nhất là khi mình mới tý tuổi đầu (lúc đó tôi 24 tuổi), thật là lố bịch!

Từ “Quần đảo Gulag” của Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn đến “Chuyện kể năm 2000” của Bùi Ngọc Tấn, tôi càng thương người bác ruột Nguyễn Phổ của mình. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn có lẽ còn có chút an ủi khi tôi mạo muội so sánh ông với Solzhenitsyn, còn bác Nguyễn Phổ của tôi… Có thể (theo tôi), bác Phổ của tôi cũng đã giống người sinh ra mình, những người chỉ biết cống hiến và không biết vinh danh là thế nào?!

130220_nguyenpho_603

Ông Nguyễn Phổ cùng các con, cháu, chắt xum họp Tết 1995 tại Hà Nội.

Cuộc đời này xét ra chỉ có mỗi con đường về nghĩa địa là một chiều thôi. Vậy mà bác tôi đã chỉ được đi mỗi con đường ấy…

Xin mời quý vị đọc bài “Một giọt dầu văng không ai biết tới” và bài “Nỗi bất hạnh của kẻ khi mất rồi mới biết mình mất gì?!”

Nguyễn Lân Bình

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

April 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
2930  
April 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
2930  

Social Network